Danh Ngôn

Trong một xã hội ngục tù, văn học tự do chỉ có thể hiện hữu để tố cáo và nuôi hi vọng.

In an incarcerated society, free literature can exist only as denunciation and hope.

Eduardo Galeano (1940-2015). “In Defense of the Word” (7) tr. Bobbye S. Ortiz, Days and Nights of Love and War, 1977, tr. Judith Brister, 1983

Văn học suy tàn chỉ vì con người càng ngày càng trở nên thối nát.

Literature decays only as men become more and more corrupt.

Goethe (1749-1832). The Maxims and Reflections of Goethe, 466, tr. T. Bailey Saunders, 1892

Văn học chịu số phận bi đát nếu tự do tư tưởng biến mất.

Literature is doomed if liberty of thought perishes.

George Orwell (1903-1950). “The Prevention of Literature,” January 1946, The Collected Essays, Journalism, and Letters of George Orwell, vol. 4, ed. Sonia Orwell and Ian Angus, 1968

Trong ý nghĩa toàn diện nhất, văn học là tự truyện của nhân loại.

Literature in its most comprehensive sense is the autobiography of humanity.

Bernard Beranson (1865-1959). Notebook, 11 December 1892. Trong cuốn The Bernard Beranson Treasury, ed. Hanna Kiel, 1962

Ban biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Lặn sâu vào dân tộc để sáng tạo cái mới: Thơ tiếng Việt của tác giả Cham

Inrasara


1. Truyền thống và hiện đại, tiếp thu và sáng tạo, tiếp nhận tinh hoa thế giới… là cụm từ xuất hiện thường xuyên trên các phương tiện thông tin đại chúng, khi đề cập đến văn hóa – hai thập niên qua. Lặp đi lặp lại đến thành nhàm. Nhàm và nhảm. Nhất là trong sáng tác văn học. Với văn học các dân tộc thiểu số thì càng. Bởi thực tế, chưa ai chỉ ra cho ta thấy cụ thể đâu là truyền thống văn học dân tộc. Từ Cham đến Tày, Khmer hay các dân tộc thiểu số Tây Nguyên. Tất cả… Ta hiểu mơ hồ và làm mơ hồ. Từ đó xảy ra bao ngộ nhận.

Ngộ nhận, nên ta cứ đinh ninh mấy ê hê, thổ cẩm, thắng cố, vòng xòe, apsara, cái gùi, buôn plây phum sóc… là dân tộc. Cứ đùn thật nhiều ngôn từ cụ thể, lối nghĩ sơ giản, lối nói dân dã mộc mạc vào thơ là mặc nhiên ta đã đậm đà bản sắc. Không cần biết đến cách tân hay sáng tạo. Từ đó, ta vỗ về và ca tụng nhau, phê bình và nhận định tác phẩm của nhau. Mơ hồ vậy thôi, và không gì khác. Vô hình trung, các cụm từ trở thành khẩu hiệu sáo rỗng, mình hô cho mình nghe. Rồi thôi, và không gì hơn.

Bởi, gần nửa thế kỉ trôi qua từ khi đất nước làm một, đâu là công trình khoa học thật nền tảng về toàn cảnh văn học cổ điển Nùng, Dao, Êđê, Bana, Mông, Thái… được trình làng, để thế hệ sáng tác hôm nay có thể "tiếp thu và sáng tạo"? Không hiểu mình, ta hổng chân và mất đất đứng; không bnhận ra mình ở đâu để khởi đi từ đâu, ta dễ làm lang thang lạc lõng; không biết người thiên hạ đã đi đến đâu, hoặc ta đóng cửa ngồi lại với bản sắc hoặc ta hoang mang, mất tự tin.

Văn hóa một dân tộc tồn tại ở bản sắc, phát triển ở tiếp nhận và sáng tạo. Nhưng thế nào là bản sắc? Ta chỉ hiểu được bản sắc một cái gì đó khi đặt nó bên cạnh một/ những cái khác. Đâu là bản sắc văn hóa Cham? Ở phạm vi hẹp hơn, văn học chẳng hạn, đâu là bản sắc, cái khác biệt nổi bật của văn học Cham khả dĩ làm đa dạng thêm nền văn học đa dân tộc Việt Nam?

Thơ Nguyên Yên

Điếu ca


tôi không kể với ai về ngày tôi chào đời

một ngày tháng Sáu mưa không ngơi

mưa như tiếng nấc lời tử biệt

mưa xóa tan hoang một kiếp người


tôi được ấp ủ được phôi thai

trong bào thai một cuộc tình dài

họ hẹn hò nhau từ tiền kiếp

tìm nhau xây ảo vọng tình duyên

Người đeo lục lạc (kỳ 7)

Truyện của Võ Bá Cường


Chương 9: Đổi chỗ

Nhà cô Hiền Lương, giáo viên dạy Văn trường cấp II Vũ Công. Chỗ cô ở hôm nay là nơi ở trước của già Đang, từ trại nuôi lợn về ở tạm mấy ngày, sau người ta mới cho ra ở ngôi nhà sát với ao cá Bác Hồ. Nhìn suốt lượt gian nhà tôi cố tìm bóng dáng cụ Đang xem có còn lẩn quất quanh đây hay không? Chứ ngôi nhà sát bờ "Ao cá Bác Hồ" của già Đang không biết người ta vô tình hay hữu ý đã cuốc lật tận móng, chuyển đi từng viên gạch, ngói, chiếc kèo, cây tre, cái mè chỗ trước cụ thường treo những con rắn mới kiếm chác được, hoặc đổi mua theo kiểu “đỏ đen” với mấy đứa trẻ trong làng, tưởng nó như còn đang ngo ngoe trước mặt tôi, tất cả để minh chứng những ngày lam lũ của vị Lão thành cách mạng kỳ cựu thời đầu dựng nước được Bác Hồ giao việc với lời khích lệ động viên suốt đời cụ Đang đem theo làm hành trang của mình: "Việc có khó mới giao cho chú".

Ngôi nhà ấy được dỡ bỏ vào cái đêm hôm trước, để sáng hôm sau người ta mang tro cốt cụ về làng, nó còn đâu là nhà ở của cụ Trưởng Ban Tổ chức lễ Quốc khánh 2 - 9 - 1945.

Chiều 25/5/2007 nắng như lửa đốt. Gió nóng như lùa vào trong nhà.

Giọng cô Hiền Lương thật mau mắn, mời tôi uống chén nước rồi đem chuyện cụ Đang kể.... "Một buổi sáng, ông già với khuôn mặt thông thái khô khan từ trại chăn lợn lủi thủi về đây. Ông đi lặng lẽ, đằng sau không một bóng người; trên vai là một cái tay nải được khâu túm nhiều lần vải như của kẻ hành khất. Vâng! Đồ hành của ông chỉ có thế. Đã hơn một ngày không có hột cơm vào bụng ngoài những củ khoai luộc và chén nước lã đun sôi. Ông bóp miệng dè sẻn từng nắm gạo lo cho cuộc sống sắp tới… Tới đầu sân, ông thò tay vào túi lấy ra quả táo héo đút vào miệng, hình như lại thêm tí muối nữa thì phải. Cùi táo và hạt muối mặn tan ra chan chát găn gắt. Ông già biết quả táo đó chẳng bổ béo gì, song vẫn cứ kiên nhẫn nhai, miệng đảo đi đảo lại cái hạt khô cứng đôi lúc phát ra tiếng kêu "cấc cấc" giữa hai hàm răng va nhau, với một hy vọng… Một kiến thức giàu có của người bị giam cầm mười lăm năm trong hang đá. Tự nhiên cụ vấp ngã, cái ngã không phải do vật cản mà vì đói. Cụ nằm nghiêng, da mặt chân tay phù thũng không động đậy. Mọi người chạy ra, cụ xua tay. Rồi tự chống cùi tay xuống đất gượng ngồi dậy một cách lóng ngóng, khó nhọc…

Vấn đề quân đội làm kinh tế

Vũ Ngọc Hoàng

Vấn đề Quân đội làm kinh tế những ngày gần đây đang trở thành “điểm nóng”, được dư luận cả nước rất quan tâm, với nhiều ý kiến rất khác nhau, kể cả trong các tướng lĩnh, sĩ quan, cán bộ hưu trí và trong nhân dân. Không kể động cơ, thì ý kiến khác nhau ấy có thể xuất phát từ góc nhìn, từ quan niệm, quan điểm và cách tư duy khác nhau. Mặt khác, chứng tỏ chuyện Quân đội làm kinh tế đang là vấn đề quan trọng, cần có sự thống nhất về nhận thức trên cơ sở kết luận rõ ràng và khoa học của các cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước. Phần tôi chỉ xin góp vài ý kiến nhỏ để bạn đọc tham khảo.

Trước tiên, cần phân biệt quan điểm “Kinh tế gắn với quốc phòng” và vấn đề “Quân đội làm kinh tế”. Đó là hai việc khác nhau, không thể và không nên đồng nhất. Kinh tế phải gắn với quốc phòng là rất đúng, nhiều nước (nếu không nói là tất cả) đều làm như thế. Nước ta, với vị trí địa lý và hoàn cảnh lịch sử trước đây cũng như bây giờ, càng nhất thiết phải vậy, không được lơ là mất cảnh giác. Nhưng đó là việc mà cả hệ thống chính trị, tất cả các ngành, các cấp, các doanh nghiệp và toàn dân phải quan tâm, cùng thực hiện. Từ việc quy hoạch bố trí lực lượng sản xuất trên địa bàn cả nước đến việc xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ, không lệ thuộc nước nào, nhất là nước dễ gây nguy cơ cho ta, kể cả tài chính-tiền tệ, xuất nhập khẩu hàng hóa và các sản phẩm kỹ thuật đặc thù; phát triển các ngành, các cơ sở và hạ tầng lưỡng dụng về công nghiệp và kỹ thuật… Gắn kinh tế với quốc phòng là một phạm trù rộng, cần bàn chuyên đề riêng. Còn Quân đội làm kinh tế là việc khác, không phải là gắn kinh tế với quốc phòng.

Bảo tồn di sản đô thị: rất cần sức ép dư luận từ cộng đồng

Bảo Như

Trước tình trạng một số di sản đô thị ở TP. HCM đang biến mất nhanh chóng hoặc “lọt thỏm” và dần bị “bức tử” bởi các khu đô thị mới, TS. Nguyễn Thị Hậu cho rằng, chỉ khi ý thức cộng đồng được nâng cao mới có thể tác động và buộc nhà quản lý phải có động thái gìn giữ di sản.

clip_image001

TS. Nguyễn Thị Hậu và nhà văn Nguyễn Trương Quý trao đổi tại tọa đàm. Ảnh: T.Nhàn.

Công trình Hoa sen tại Trung Quốc

Tin Hà Nội đã phê duyệt phương án kiến trúc nhà hát Hoa Sen khiến cho không ít kiến trúc sư băn khoăn, vì nhiều lẽ, trong đó có việc nó quá giống một công trình đã có ở Giang Tô, China. Các vị có trách nhiệm ở Thủ đô cần xét lại ngay phương án trên, đừng để tiêu hết hàng trăm tỷ của dân rồi mới ớ người khi bị “soi” và mang tiếng “đạo… hình”

Văn Việt

Hà Nội vừa phê duyệt công trình Trung tâm Hoa sen, nhưng ít ai biết ở quận Vũ Tiến, Thường Châu, Giang Tô, Trung Quốc cũng có một công trình Hoa sen.

Địa điểm: Vũ Tiến, Thường Châu, Giang Tô, Trung Quốc

Năm thiết kế: 2013

Ảnh: John Gollings

Chi phí : 12 triệu đô Úc

Văn học miền Nam 54-75 (332): Nhã Ca (23) Giải khăn sô cho Huế

Chương 8

Trở về ngôi nhà cũ

Nhà ở đằng trước đã trở về. Trước Tết, tôi thấy nhà này đông lắm, con cháu ra vô đầy sân. Khi ba tôi mất, ông chủ nhà cũng có qua thăm viếng nữa. Vậy mà bây giờ chỉ có hai người con trai trở về. Họ mặc quần áo đại tang và đội mũ trắng trên đầu.

Tôi biết được họ về là nhờ nghe được tiếng khóc. Một buổi xế trưa, khi vừa chui ra khỏi miệng hầm để giúp dì Vạn lấy nước vo gạo, tôi bỗng nghe tiếng khóc ai oán ở nhà trước mặt ngõ. Dì Vạn khoát tay:

“Im, ai khóc mà dễ sợ rứa. Ai khóc như ma khóc rứa hề.”

Tôi nói:

“Con nghe chừng như tiếng đàn ông.”

Thái bò ra:

“Tiếng khóc bên nhà trước mình, hình như nhà bác Năm thì phải chị hỉ!”

Ý thức sáng tác truyện ngắn (kỳ 3)

Giới thiệu học thuyết Dramatica

Ngu Yên


Sự khác biệt trong sáng tác và thưởng ngoạn truyện ngắn thời xưa và thời nay là mức độ phân tâm. Thời xưa, từ nửa thế kỷ 20 trở về trước. Thời nay, từ nửa thế kỷ 20 đến đầu thế kỷ 21. Thời xưa, vận tốc sống chậm chạp, không có nhiều chọn lựa giải trí, không có nhiều sản phẩm thay thế nghệ thuật, hoặc làm lãng quên hiệu quả thẩm mỹ. Thời nay, vận tốc sống càng lúc càng nhanh, càng dồn nén, càng đòi hỏi toàn bộ trí óc, tâm tư và thể xác, bận rộn. Con người chỉ biết thời giờ, không quan tâm thời gian. Con người dù có thời gian, không có thời giờ. Song song là những phương tiện giải trí và học hỏi càng ngày càng nhiều, càng dư thừa, áp đảo vai trò và hiệu quả của văn chương. Người viết thời nay bị tràn ngập bởi thông tin, dữ kiện, địa phương và thế giới. Kiến thức dồn dập chưa kịp tiêu thụ và khả năng suy nghĩ bị tràn ngập. Sự kiện này làm sáng tác bối rối, không tập trung và hoài nghi về những gì muốn viết hoặc đã viết. Nhiều dữ kiện, nhiều tài liệu, sẽ có nhiều cách giải quyết. Khả năng trung bình của trí nhớ khó chứa hết dữ liệu. Khả năng trung bình của luận lý khó thấy hết những hiệu quả. Trong thời đại điện tử, lãnh vực nào cũng điện tử, người ta nghĩ đến "văn chương điện tử", sử dụng phần mềm máy tính (software) để sáng tác. Câu hỏi cần lưu ý: Sáng tạo của phần mềm và sáng tạo của nhà văn khác nhau ra sao?

Đêm hỏa châu

Truyện Thu Phong

May mà có em...” (thơ Vũ Hữu Định)


Khanh mười chín, học Đồng Đế ra Trung sĩ, thường cầm đàn guitar hát giữa hai lần chạm súng, toàn nhạc Trịnh Công Sơn: Đêm bây giờ đêm mai, Ca dao mẹ, Diễm xưa...

Đường phố Pleiku rợp bóng cổ thụ, lề đường rộng trồng nhiều thông. Có nhiều xe xích lô đạp, xe lam ba bánh, nhiều nhất là xe jeep quân đội. Phố xá đầy lính: lính không quân từ phi trường Cù Hanh, lính bộ binh thuộc sư đoàn 22, 23, lính Lực lượng Đặc biệt, Lôi Hổ, lính bộ tư lệnh Quân đoàn 2...

Các nữ sinh tan học về cùng nhau từng tốp ba bốn, nón lá áo dài trắng mềm mại thướt tha chuyện trò cười dòn, những bông hoa tươi tắn giữa kẽm gai mìn bẫy súng ống, những dòng nước mát trên sa mạc khô cằn. Một trong các cô má đỏ môi hồng ở đây đã khiến Khanh thôi hát các ca khúc của Trịnh Công Sơn để hát Còn chút gì để nhớ: “Phố núi cao phố núi đầy sương/ Phố núi cây xanh trời thấp thật buồn... May mà có em đời còn dễ thương/ Em Pleiku má đỏ môi hồng... Mai xa lắc trên đồn biên giới/ Còn một chút gì để nhớ để quên...”.

Một cô nữ sinh chỉ tay về phía Bình: “Nhìn kìa!”.

Các cô gái dừng lại, chăm chú nhìn Bình, bàn tán: “Lạ thật …”, “Đẹp quá!..”, “Dễ thương quá!”.

Không chỉ các nữ sinh, mọi người đều nhìn Bình.

Bông hồng cho Trần Thị Nga

Nguyễn Tường Thụy (VNTB)

Hôm 18/7 vừa rồi, tại nhà anh Nguyễn Thanh Hà có một buổi họp mặt. Trong buổi họp mặt, mọi người có bàn đến phiên tòa Trần Thị Nga sắp tới. Có ý kiến nêu ra 3 phụ nữ đấu tranh can đảm nhất của Việt Nam, trong đó có Trần Thị Nga. Đó là nhận định của cá nhân đưa ra nên chẳng cần phải lấy biểu quyết nhưng cảm nhận của tôi hôm đó là nhiều người, nếu không nói là tất cả đồng ý với nhận định này.

clip_image002

​Hình ảnh Trần Thị Nga tại nghị trường San Jose, California. Ảnh của phóng viên Việt Nam Thời báo.

Đồng Lộc

(Rút từ facebook của Hoàng Minh Tường)

Tìm trong bản thảo, chợt thấy bài thơ "Đồng Lộc" viết từ chuyến đi với ngành giao thông từ năm 2007. Nghĩ về cái sự ĐỒNG LỘC bây giờ nó chẳng đồng lộc tí nào. Kẻ đi buôn chổi đót ở nước Yên mà xây được lâu đài trên 13000 m2, kẻ làm thơ cỡ giải thưởng Nguyễn Du như Thạch Quỳ được Chính quyền đặt hàng in thơ tuyển mà nhuận bút được 1,5 triệu, không bằng ca nương hát nhép một câu.
Nhân ngày Tưởng niệm Anh hùng Liệt sỹ, xin đưa lên để hầu quý vị:

Nhận thức luận quan hệ ngôn ngữ-hiện thực của Trang Tử trong bối cảnh Giải Cấu Trúc Luận

Lê Thời Tân


Tóm tắt: Triết gia Trung Hoa Trang Tử nhận thấy có sự tồn tại của hai thế giới: thế giới của vật thực khách quan (ngón tay - 手 指 thủ chỉ, con ngựa - 馬 mã, cả hành động chỉ vào và nói câu liên quan đến con ngựa) và thế giới của “指” [zhǐ] “碼” [mǎ] viết/nói - tức là thế giới của ngôn ngữ muốn và cũng tự cho mình có thể bao trùm và chứa đựng được tất thảy (Ngôi nhà Hữu Thể - Heidegger). Quan hệ giữa hai thế giới đó diễn ra như thế nào ở nhân loại nói-viết? Đó là câu hỏi mà Trang Tử đã đề xuất ở thiên tản văn triết học Tề Vật Luận. Bài viết này là một cố gắng cắt nghĩa nhận thức Trang Tử về quan hệ ngôn ngữ-hiện thực trong bối cảnh ngôn ngữ học triết học Giải cấu trúc luận.

Từ khóa: Trang Tử, Tề Vật Luận, quan hệ ngôn ngữ-hiện thực, ngôn ngữ học triết học, Giải cấu trúc luận

1.Trích dẫn Trang Tử từ Văn Nhất Đa

Tề Vật Luận (齊 物 論) của Trang Tử có đoạn:

以指喻指之非指 [1],

不若以非指喻指之非指也 [2]

以馬喻馬之非馬 [3],

不若以非馬喻馬之非馬也 [4]

, 一指也 [5];萬物,一馬也 [6]

Phiên âm Hán Việt:

"chỉ" dụ chỉ chi phi chỉ,

bất nhược dĩ "phi chỉ" dụ chỉ chi phi chỉ dã;

"" dụ mã chi phi mã,

bất nhược dĩ "phi mã" dụ mã chi phi mã dã. Thiên hạ nhất chỉ dã, vạn vật nhất mã dã.

Những điều nhóm Cánh Buồm đã làm

(Báo cáo trước Ủy Ban VH-GD Quốc Hội ngày 22 tháng 7 năm 2017)

Phạm Toàn


Mở đầu

Năm 2009, nhóm Cánh Buồm ra đời.

Cánh Buồm tập hợp một số nhà hoạt động Giáo dục đã có tuổi và trẻ tuổi với mục tiêu khởi sự những công việc cụ thể nhằm gợi ý cho những việc làm hướng tới thay đổi nền Giáo dục quốc dân Việt Nam.

Tư tưởng nhất quán của nhóm là tìm cách chuyển một nền Giáo dục vốn tập trung vào việc dạy học sang một nền Giáo dục tập trung vào tổ chức việc học. Nhóm Cánh Buồm gọi tên đó là một nền Giáo dục Việt Nam hiện đại hóa.

Gọi đó là hiện đại hóa vì phải vừa làm vừa thử nghiệm – lý thuyết và thực tiễn cùng dắt tay nhau nhau tiệm cận với cái đúng – hoặc cái Chân lý của Việt Nam ở nơi đây và vào lúc này, chứ không là cái “Đúng” mơ hồ nhặt nhạnh từ nơi xa lạ.

Nhóm Cánh Buồm chấp nhận thách thức tạo ra những sản phẩm cụ thể (chương trình học và sách giáo khoa bậc phổ thông) là những giải pháp kỹ thuật được chưng cất từ thực tiễn Giáo dục Việt Nam nhiều chục năm nay, ít nhất là từ năm 1978 với hệ thống Giáo dục thực nghiệm do giáo sư Hồ Ngọc Đại khởi xướng.

Dân chủ hóa ở Vương quốc Bhutan

Châu Hữu Quang (Trung Quốc)

Nguyễn Hải Hoành dịch

clip_image001

Trong cuốn “Triều văn đạo tập” của cụ Châu Hữu Quang[1] có in bài “Dân chủ hóa ở vương quốc Bhutan” cụ viết khi 103 tuổi. Bài này từng đăng trên tạp chí “Quần ngôn” số 5 năm 2008.

Bhutan[2] là một nước nhỏ diện tích chỉ có 47 nghìn kilômet vuông nằm giữa Trung Quốc (TQ) và Ấn Độ, là nước láng giềng của TQ. Trước khi thực hành chế độ dân chủ, Bhutan là một “vương quốc” từ hình thức cho tới nội dung. Nhưng vương quốc nhỏ bé ấy khi đã nói thực hành dân chủ là thực hành dân chủ ngay. Thế mà có những nước tuy nhân dân phấn đấu vì dân chủ cả thế kỷ, các thế hệ phấn đấu đã lần lượt rời khỏi thế giới này rồi mà thế hệ sau của họ cho tới nay vẫn còn sống trong một xã hội trên thực tế là vương quốc, chuyên chế.

Búa liềm

Lý Trực Dũng

Kể từ ngày học thuyết đấu tranh giai cấp – Klassenkampf – của Karl Marx ra đời quả thật giai cấp công nông khắp thế giới được tiếng lên ngôi nhưng đáng tiếc không phải dành cho tất cả những ai thuộc hai giai cấp này mà dường như chỉ dành cho những ai lãnh đạo hai giai cấp này. Quả thật búa liềm cơ bắp một thời đã làm cho bọn tư bản sợ “giãy chết” không dám đọ cơ bắp với búa liềm vì biết chắc thua nên chúng rất nhan hiểm chuyển sang phát triển phần mềm trí tuệ với những Internet, Google, Facebook... và không “giãy chết” trong khi búa liềm cơ bắp vẫn cứ búa và liềm. Đáng đáng suy nghĩ là Học thuyết đấu tranh giai cấp của Karl Marx không được thực hiện ở nước Đức của ông. Tại sao? Xin dành cho các nhà lí luận chủ nghĩa Marx trả lời và cũng xin lưu ý, bản dịch Karl Marx tiếng Việt có rất nhiều lỗi cho nên quý vị khi đọc phải so với nguyên bản tiếng Đức. Còn các họa sĩ biếm họa khắp thế giới trong đó có nhiều họa sĩ Liên Xô cũ & Nga và Trung Quốc thì có cái nhìn thực tế hơn về búa và liềm. Xin xem một số tranh búa liềm của họ.

Thơ Phương Uy

Ly 10

(Cho Big Boss)


giữa những ngày qua rất vắng

giữa những ý nghĩ chưa nghĩ cho ra vuông ra tròn

giữa đêm mà nỗi nhớ chưa chở đi hết từ quên

ngủ đi Ly


Cải biến chính quyền thông qua cải biến xã hội

Lưu Hiểu Ba

Phạm Thị Hoài dịch

^23B9AF80C6A25C453C00642B916EA3A45622D7A9EA55AFAA7D^pimgpsh_fullsize_distr

Bài viết sau đây được nhiều lần nhắc đến trong bản án ngày 25.12.2010 của Nhân dân Pháp viện số 1 tại Bắc Kinh đối với nhà văn và nhà hoạt động chính trị Lưu Hiểu Ba, như một chứng cứ về tội “xúi giục lật đổ chính quyền”. Trong lời tự bào chữa trước đó, ông Lưu Hiểu Ba cũng dẫn ra chính bài viết này để bác bỏ lập luận trên, song tranh tụng trong một vụ án chính trị ở một quốc gia độc tài dĩ nhiên là vô nghĩa. Ông không còn sống nữa để thấy thành tựu của con đường cải cách hòa bình mà mình theo đuổi. Tất cả những điều ông nói về Trung Quốc dường như đều trùng khít với Việt Nam. Tôi cũng muốn tin rằng đó là con đường khả dĩ hơn cả với quê hương tôi, dù các chế độ độc tài châu Á những thập niên qua chỉ đổi màu mà trước sau không thay đổi bản chất và thậm chí đang quyến rũ thế giới.

Người dịch

Chuyện tình chú Lam

Truyện Nguyễn Ngọc Hoa


Chú Lam về phép. Chú là em họ của cha tôi nhưng cha mẹ mất sớm nên chú được ông bà nội đem về nuôi từ thuở bé. Từ ngày bà nội mất, đây là lần đầu tiên chú về thăm nhà.

Ông nội cho làm heo cúng ông bà và mời bà con họ hàng ăn mừng ông quan một oai phong trong bộ quân phục ka-ki, trên cầu vai gắn lon mới toanh.

Chị vú kể ngày trước chú học giỏi lắm; học ở trường tỉnh đậu bằng Tiểu học rồi vô Huế học trường Khải Định. Cuốn Pháp-Việt từ điển và nhiều sách Pháp trên kệ sách là của chú. Chú thương một cô gái trong làng nhưng bà nội nhất định không tán thành vì chú tuổi Ngọ mà cô ấy tuổi Dậu, Tý Ngọ Mẹo Dậu tứ hành xung. Hơn nữa, bà nói mua heo chọn nái lấy gái chọn dòng, mẹ cô ấy là người lẳng lơ trắc nết. Thời con gái tát nước ngoài đồng có lần bà ta hát ghẹo ông nội lúc đó là trai tơ chưa vợ.

Cô gái thương chú trốn nhà vô Huế, nhưng chú là học trò chưa đủ sức đùm bọc người yêu nên cô bị cha tìm bắt về. Đồng thời, bà nội triệu chú về bắt lấy vợ. Thím Sẻ lớn hơn chú mười tuổi, đảm đang và hiền hậu cả đời không mất lòng ai. Không bằng lòng nhưng chú không dám cãi lời bác Thông gái (tức là bà nội, Thông là tên của cha tôi) dày công dưỡng dục. Chú chỉ không gần gũi đụng chạm đến cô dâu.

Để khỏi phải ở nhà, chú đăng lính và ở luôn trong đồn; khi nào bà nội cho người nhắn chú mới về nhà, mang theo giường bố kê ngủ ở phòng ngoài, không buồn ngó ngàng đến thím. Sau ba năm làm dâu mà không chồng, thím Sẻ buồn tình ra làng xin để (ly dị) chú.

Hãy chặn bàn tay bọn mưu mô giết môi trường biển Hòn Cau!!!

Ngô Minh Khôi

Bộ TN-MT đã cấp phép cho Fomosa ( của Trung Quốc) xả thải ra biển làm chết biển miền Trung . Bây giờ họ lại cấp phép cho nhà máy điện Vĩnh Tân1( cũng của TQ) xả thải 1 triệu mét khối chất thải ra biển Hòn Cau. Rồi môi trường biển Hòn Cau và biển Bình Thuận và Nam Trung Bộ sẽ chết như biển Bắc miền Trung thôi! Họ lừa dư luận rằng đây là NHẤN CHÌM chứ không phải XẢ THẢI! Sau khi cư dân mạng phản đối, họ bảo CẤP PHÉP là chuẩn bị, còn đang nghiên cứu cấp diện tích biển. Hồ sơ xin cấp phép họ đưa cả tên TS Nguyễn Tác An, nguyên Viện trưởng Viện Hải Dương học vào bị tiến sĩ phản đối.TS An nói:" Đó là sự dối trá chưa từng thấy đối với hoạt động khoa học ở Việt Nam, tôi không nghĩ người ta lại làm những việc quá sức tưởng tượng như vậy. Đó là một tiền lệ xấu!" ( theo báo Tuổi Trẻ ngày 21/7). GĐ NMĐ Vĩnh Tân bảo rằng hồ sơ xin cấp phép chỉ là "hồ sơ ban đầu". Nghĩa là mới HỒ SƠ BAN ĐẦU, Bộ TNMT đã vội vàng cấp phép ! Có gì bí ẩn ở đây! Sao vội vàng thế?

Làm việc với an ninh quận Thủ Đức

FB Ngo Thu

Làm việc với an ninh quận Thủ Đức ngày 20.7.2017.

Thời gian từ 14:30 đến 16:15 dài như vậy nhưng cù nhằng các nội dung sau đây:

-Đầu tiên họ trả lại tôi điện thoại (hết pin) và chứng minh nhân dân.

Tôi phàn nàn thái độ khi c.a cướp điện thoại của tôi. Họ nói đó là đơn vị khác. Họ chỉ có trách nhiệm trả cho tôi.

-Cho rằng tôi đi bộ với bảng hiệu như thế khiến người đi đường chú ý xao nhãng dễ gây tai nạn giao thông.

Tôi cho rằng nếu có một cô gái đẹp ăn mặc bắt mắt khiến người ta chú ý không thể trách cô ấy đẹp. Họ có bổn phận làm chủ bản thân. Tôi chỉ biết tôi không phạm luật. Tôi cũng cho rằng suy diễn nguyên nhân tai nạn giao thông xảy ra, nếu có, quy trách nhiệm do tôi là thiếu căn cứ.

Ngẫm mà thấy đau lòng

FB Thái Bá Tân

Ở nước ta, tôi nghĩ
Không có ai đủ giàu
Để xây chùa Bái Đính.
Vậy tiền ấy từ đâu?

Chắc phải tiền nhà nước.
Tức nhà nước nhúng tay
Vào lãnh địa tôn giáo,
Vốn rất ghét trước đây.

Chiến dịch Đường Tới Tự Do

Uyên Vũ

Cách đây 3 năm, nhân kỷ niệm 60 năm sau cuộc di cư 1954, nữ sĩ Trùng Dương có bài viết và giới thiệu về một tác phẩm của một người Mỹ như một sử liệu quan trọng và đầy đủ nhất về cuộc di cư ấy. Đó là cuốn “Operation Passage to Freedom – The United States Navy in Vietnam, 1954-1955” ((Texas Tech University Press, Lubbock, Texas, 2007), tạm dịch là “Chiến Dịch Đường Tới Tự Do - Hải Quân Hoa Kỳ tại Việt Nam, 1954-1955”, do Ronald B. Frankum, Jr. biên soạn). Theo đó cuộc di tản này có sự tham dự của 115 chiến hạm và các loại tầu lớn, nhỏ khác của Mỹ, và đã chuyên chở trên 310,000 người trong số 800,786 tổng số người di cư, kể cả dân lẫn quân sự, từ Bắc vào Nam. Số còn lại do các cơ quan của chính phủ Việt, Pháp và Anh đảm trách, bằng phương tiện vừa tầu thủy vừa máy bay, và khoảng trên 40,000 người tự túc bằng các phương tiện riêng. (Table 10.1. Evacuation Totals, May 1955, tr. 205, và Phụ Lục C, tr. 216). Bà Trùng Dương cho biết thêm: đây cũng là một tài liệu quý và có lẽ là độc nhất về cuộc di tản vĩ đại, tuy không bi thảm bằng cuộc di tản năm 1975 và những chuyến vượt biên sau đó, cho những nhà viết sử và những người quan tâm tới lịch sử Việt Nam. Bởi vì tập sách không những chỉ đề cập tới việc di tản người di cư, mà còn kể tới cả những nỗ lực định cư khối gần 1 triệu người tại miền Nam nữa, ít ra là trong thời gian 300 ngày di tản, cho tới khi chuyến tầu chót rời vùng Hải Phòng vào ngày 15 tháng 5, 1955 khi bức màn tre buông xuống ở miền Bắc.

Nhà thơ Hoàng Xuân Sơn với Thơ Quỳnh

Phan Tấn Hải

Mở ra trang đầu thi tập Thơ Quỳnh chúng ta gặp ngay lời tự tình của Hoàng Xuân Sơn:
. . . quỳnh ám ảnh suốt một đời anh
có thể là một đóa quỳnh nào đó
nhú mớm từ vườn đêm thẳm sâu
có thể là một dáng quỳnh nào đó
vừa thức giấc vừa tan biến đi
trong giấc mùa đông côi góa
có thể là giọng điệu thơ quỳnh lơi lả
khỏa thể vào âm nghi. . .
.
clip_image001

Văn học miền Nam 54-75 (331): Nhã Ca (22)

Giải khăn sô cho Huế

Chương 7 (tiếp theo)

Từ hôm đó, em gái tôi vẫn thường bị mời đi họp, học rồi được thả về. Lần nào tôi cũng hỏi thăm về Ðắc. Bữa nó nói có trông thấy, bữa nó nói không. Nhưng bỗng một hôm, tôi nghe được giọng nói của Ðắc.

Hôm đó, trong lúc cả nhà đang ăn cơm dưới hầm thì có tiếng gõ cửa. Má tôi lật đật bảo chúng tôi nằm sát vào tận cùng hầm cát, rồi leo lên mở cửa. Hình như chỉ có một người và má tôi chào hỏi, giọng hơi vui mừng:

"Ủa, cậu đó hả? Cậu về khi mô?"

Tôi hồi hộp chờ đợi giọng trả lời:

Tại sao đạo văn?

FB Văn Công Hùng

Như đã hứa, nhà cháu thử bàn về việc này. Nói trước phát, chiều nay nhà cháu đi trong đoàn thăm các gia đình thương binh liệt sĩ nhân sắp 27 tháng 7, thấy nhiều điều muốn viết quá mà... chịu.

Còn đạo văn, tại sao đạo? Theo nhà cháu, trước mắt nó thỏa mãn 2 thứ háo, háo danh và háo tiền. Tiền thì ít thôi, nhưng danh thì dầy.

Nhà cháu mươi lần vạch mặt các bố đạo báo nhà cháu, có người là sinh viên mới ra trường, sau khi nhà cháu lên tiếng thì điện thoại xin lỗi, nhà cháu cảnh cáo rồi tha. Có người là kiến trúc sư, đạo nguyên văn khi nhà cháu mail cho tòa soạn cảnh báo thì im, đến lúc nhà cháu đưa lên blog mới vội vàng xin lỗi và năn nỉ nhà cháu hạ, thậm chí có bác giáo sư lừng danh, cũng mần, và vẫn còn chình ình trên một tờ báo. Mần chi họ, dù nhà cháu cực căm thù món này, và cũng to mồm, quyết liệt... bêu riếu.

Trong phạm trù văn học nghệ thuật, nhà cháu thấy, ít nhất có một yếu tố khiến người ta phải đạo văn, ấy là việc mỗi tỉnh có một hội VHNT và một tờ tạp chí/ báo văn nghệ.

Tưởng nhớ GS Y khoa Phạm Biểu Tâm

TÌM LẠI THỜI GIAN ĐÃ MẤT

TƯỞNG NHỚ MỘT VỊ DANH SƯ

GIÁO SƯ Y KHOA PHẠM BIỂU TÂM

Ngô Thế Vinh

Đây là bài mới bổ sung cho một bài viết khởi đầu chỉ là hồi tưởng và những kỷ niệm rất riêng tư với Giáo sư Phạm Biểu Tâm nhân dịp lễ tưởng niệm 100 năm ngày sinh của một vị danh sư đã để lại những dấu ấn lâu dài trong Ngành Y của Việt Nam từ thế kỷ trước.

clip_image002

Hình 1: Giáo sư Phạm Biểu Tâm tại Bệnh viện Bình Dân (1960), mỗi buổi sáng cùng các nội trú và sinh viên đi thăm trại bệnh trước khi vào phòng mổ. [nguồn: hình tư liệu gia đình Gs Phạm Biểu Tâm*]

ĐÔI DÒNG TIỂU SỬ

Giáo sư Phạm Biểu Tâm sinh ngày 13 tháng 12 năm 1913 tại Thừa Thiên, Huế; mất ngày 11 tháng 12 năm 1999 tại Hoa Kỳ, hưởng thọ 86 tuổi.

Vào cuối đời, thầy Tâm cho biết thực sự thầy gốc người Nam Bộ, sinh ra và lớn lên tại miền Trung. Sau đây là thông tin từ người em ruột Gs Phạm Biểu Tâm, Băng-sĩ Phạm Hữu Nhơn nguyên là một tướng lãnh thuộc Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực VNCH từ Falls Church, Virginia gửi cho Bông, tức tên gọi ở nhà của Phạm Biểu Trung, trưởng nam của thầy Tâm:

“Bông thân mến, Cha cháu sinh ngày 13/12/1913. Quê quán làng Nam Trung, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên, trong một gia đình khoa bảng. Cụ cố là Tổng binh Phạm Tấn, gốc miền Nam, quê quán làng Long Phú (Bến Lức, Gò Công), tỉnh Gia Định. Được vua Gia Long vời ra làm quan ngoài Bắc Hà (Ninh Bình và Nam Định). Cụ nội là Phạm Năng Tuần, tước hiệu Hàn Lâm Viên Đại Phu. Cụ khai khẩn và thành lập làng Nam Trung, tỉnh Thừa Thiên cho các quan gốc miền Nam ra Trung. Cụ thân sinh là Phạm Hữu Văn, thi đậu Tiến sĩ khoa Quí Sửu 1913. Làm quan tới chức Bố Chánh tỉnh Thanh Hóa, được thăng Thượng Thư Trị Sứ khi đã về hưu.”

Giáo sư Phạm Biểu Tâm học tiểu học tại Huế, trung học phổ thông tại Vinh, rồi trường Quốc Học Huế, và trường Bưởi Hà Nội.

Suốt thời tuổi trẻ, Giáo sư Phạm Biểu Tâm đã là một hướng đạo sinh, rất hoạt động trong giai đoạn dầu sôi lửa bỏng của đất nước. Ông gia nhập tráng đoàn Lam Sơn của Hoàng Đạo Thúy, từ những năm 1930 từng tham dự khóa huấn luyện Tráng tại Bạch Mã, Huế. Có thể nói suốt cuộc đời, ông vẫn gắn bó với phong trào hướng đạo Việt Nam và vẫn cứ mãi là một tráng sinh lên đường. Không chỉ là nội trú lâu năm nhất ở Bệnh viện Phủ Doãn, theo Gs Trần Ngọc Ninh: "Anh Tâm còn là Chủ tịch Hội Sinh viên Y khoa 1942, là cầu thủ Đội Bóng Rổ của Tổng Hội Sinh viên, đang là tuyển thủ hữu danh của Hội Thuyền Buồm Việt Nam," (1)

Năm 1932, thầy Tâm theo học Trường Y Khoa Hà Nội, sau Bác sĩ Tôn Thất Tùng một năm. Sau khi tốt nghiệp y khoa, vẫn tiếp tục tình nguyện ở lại làm Nội Trú Bệnh Viện thêm 8 năm. Mãi tới năm 1947 mới trình luận án Tiến Sĩ Y Khoa với đề tài mang tính văn hoá: “Introduction de la Médecine Occidentale en Extrême-Orient / Sự Du Nhập của Y học Tây Phương sang Viễn Đông”.

Nói về đời sống gia đình, Giáo-Sư Phạm Biểu Tâm đã kết hôn với Bà Công Tằng Tôn Nữ Tuyết Lê vào năm 1944, nguyên là nữ sinh trường Đồng Khánh rất cấp tiến. Thầy Cô có năm người con, ba trai hai gái theo thứ tự: Phạm Biểu Trung, Phạm Biểu Chí, Phạm Biểu Kim Hoàn, Phạm Biểu Kim Liên và Phạm Biểu Tình nhưng tên gọi ở nhà thì chỉ là tên các vật liệu trong phòng mổ: Bông, Gạc, Băng, Kim, Chỉ. Thầy cô còn có thêm một dưỡng nữ Trần Thị Hồng.

clip_image004clip_image006

Hình 2a,b: Thầy Cô Phạm Biểu Tâm tại căn nhà đường Ngô Thời Nhiệm (1970); và 5 người con với tên gọi ở nhà: Bông, Gạc, Băng, Kim, Chỉ. [nguồn: hình tư liệu gia đình Gs Phạm Biểu Tâm]

Năm 1948, Giáo Sư Phạm Biểu Tâm trúng tuyển kỳ thi Thạc Sĩ Y Khoa [Professeur Agrégé des Universités] tại Paris, đồng thời với Giáo sư Trần Quang Đệ cũng là một bác sĩ phẫu thuật lừng danh tại Bệnh viện Chợ Rẫy sau này. Trở về nước, thầy Tâm tiếp tục giảng dạy tại Đại Học Y Khoa Hà Nội kiêm Giám Đốc Bệnh Viện Yersin hay còn gọi là Nhà Thương Phủ Doãn cho đến ngày ký kết Hiệp định Genève 1954 phân đôi đất nước.

clip_image008

Hình 3: Gs Phạm Biểu Tâm (phải) và Bs chuyên khoa Ung thư Nguyễn Xuân Chữ đi dự Tuần lễ Ung Thư / Semaine Du Cancer (1950) tại Pháp, phía sau là tấm poster tiếng Việt với slogan: Ung thư càng để lâu bao nhiêu càng kém hy vọng khỏi bấy nhiêu. Hãy đến khám tại Cơ quan Trung ương Việt Nam Trừ Ung thư tại Bệnh Viện Yersin Hà Nội. [nguồn: hình tư liệu gia đình Gs Phạm Biểu Tâm]

clip_image010

Hình 4: Buổi trình luận án tại Đại học Y Khoa Hà Nội (1952) của Bs tân khoa Nguyễn Tấn Hồng, với Giáo sư Phạm Biểu Tâm trong Hội đồng Giám khảo. [nguồn: hình tư liệu gia đình Gs Phạm Biểu Tâm]

Năm 1950, Quân đội Quốc gia Việt Nam được thành lập, cũng khởi đầu ngành Quân Y Việt Nam 1951, Gs Phạm Biểu Tâm có thời gian đảm trách chức vụ Phó Giám Đốc Trường Quân Y với cấp bậc Trung Tá.

Năm 1954, Giáo-Sư Phạm Biểu Tâm đã cùng gia đình di cư vào Nam, được đề cử làm Giám Đốc Bệnh Viện Bình Dân mới xây cất xong trên đường Phan Thanh Giản Sài Gòn, đồng thời cũng là Trưởng Khu Ngoại Khoa tại bệnh Viện này. Đa số nhân viên y tế từ nhà thương Phủ Doãn di cư vào Nam đều trở lại làm việc tại bệnh viện Bình Dân. Đây cũng là một bệnh viện giảng huấn trực thuộc trường Đại Học Y Nha Dược duy nhất của Miền Nam Việt Nam thời bấy giờ.

Khi Đại Học Hỗn Hợp Pháp Việt được người Pháp trao trả lại cho Việt Nam [11.05.1955], Giáo-Sư Phạm Biểu Tâm được đề cử làm Khoa Trưởng, và là vị Khoa Trưởng đầu tiên của Trường Đại Học Y Dược Sài Gòn [Faculté Mixte de Médecine et Pharmacie].

clip_image012

Hình 5: Giáo sư Phạm Biểu Tâm Khoa Trưởng Y Khoa Sài Gòn (trái) và Linh Mục Cao Văn Luận Viện Trưởng sáng lập của Viện Đại Học Huế từ 1957, đi dự một Hội nghị Quốc tế về Giáo Dục. [nguồn: hình tư liệu gia đình Gs Phạm Biểu Tâm]

clip_image014

Hình 6: Hội Đồng Khoa, với một số giáo sư trong Ban Giảng Huấn Đại Học Y Khoa Sài Gòn: từ trái, Gs Trần Ngọc Ninh, Gs Trịnh Văn Tuất, Gs Trần Vỹ, Gs Caubet, Gs Phạm Biểu Tâm, Gs Huard, Gs Trần Đình Đệ, Gs Nguyễn Đình Cát, Gs Nguyễn Hữu, Gs Ngô Gia Hy. [nguồn: hình tư liệu gia đình Gs Phạm Biểu Tâm]

clip_image016

Hình 7: Sau buổi trình luận án của 2 Bs tân khoa: Nguyễn Khắc Minh, Đào Hữu Anh tại Đại học Y Khoa Sài Gòn (1960); với Hội đồng Giám khảo, hàng trước từ trái: Giáo sư Nguyễn Hữu, Giáo sư Phạm Biểu Tâm, Giáo sư Trần Đình Đệ, Giáo sư Trịnh Văn Tuất. (Bs Nguyễn Khắc Minh, Bs Đào Hữu Anh, cả hai đều trở thành giáo sư của trường Y Khoa sau này). [nguồn: hình tư liệu của Gs Nguyễn Khắc Minh]

Năm 1962, Hiệp Hội Y Khoa Hoa Kỳ / American Medical Association [AMA] đã viện trợ một ngân khoản lớn cho Việt Nam để xây cất một Trung Tâm Giáo Dục Y Khoa với tiêu chuẩn hiện đại tại đường Hồng Bàng, Chợ Lớn, gồm một Trường Y Khoa [giai đoạn I] và một Bệnh Viện thực tập [giai đoạn II]. Lễ đặt viên đá đầu tiên do Tổng Thống Ngô Đình Diệm chủ tọa.

clip_image018

Hình 8a: Lễ đặt viên đá đầu tiên (1962) xây cất Trung Tâm Giáo Dục Y Khoa tại đường Hồng Bàng, Chợ Lớn; từ trái: Gs Khoa Trưởng Phạm Biểu Tâm, Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Gs Nguyễn Quang Trình, Gs Lê Văn Thới; đứng phía sau là Đại sứ Mỹ Frederick E. Nolting, Jr.

clip_image020

Hình 8b: Lễ đặt viên đá đầu tiên xây cất Trung Tâm Giáo Dục Y Khoa tại đường Hồng Bàng; hàng trước từ trái: Gs Phạm Biểu Tâm, Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, Gs Nguyễn Quang Trình, Viện trưởng Viện Đại học Sài Gòn. Trung Tâm Giáo Dục Y Khoa được khánh thành 3 năm sau 1966. [nguồn: hình tư liệu gia đình Gs Phạm Biểu Tâm]

Sau biến cố 1963, Gs Phạm Biểu Tâm tiếp tục ở lại với Trường Y Khoa cho đến tháng 3 năm 1967, khi tướng Nguyễn Cao Kỳ, lúc đó là Chủ tịch Uỷ ban Hành pháp Trung ương đã đơn phương ký sắc lệnh giải nhiệm chức vụ Khoa Trưởng của Gs Phạm Biểu Tâm để thay thế bằng một Uỷ ban 5 người, đây cũng là lần đầu tiên ở miền Nam chính trị can thiệp vào nền tự trị đại học. Từ nhiệm chức Khoa trưởng, thầy Tâm vẫn cứ ẩn nhẫn, tiếp tục công việc của một Giáo sư Giải phẫu, giảng dạy và điều trị mổ xẻ tại Khu Ngoại Khoa B Bệnh viện Bình Dân.

Cùng lúc với Dự án của Hiệp Hội Y khoa Hoa Kỳ / AMA Project, kết hợp với trường Y khoa Sài Gòn để cải tiến các bộ môn từ khoa học cơ bản tới các khoa lâm sàng như nội khoa, sản phụ khoa, nhi khoa, giải phẫu, gây mê, quang tuyến... với kế hoạch vừa huấn luyện tại chỗ vừa gửi nhân viên giảng huấn sang tu nghiệp tại các Đại học Hoa Kỳ. Đây là giai đoạn thầy Tâm đã bỏ ra rất nhiều công sức để phát triển chương trình đào tạo thêm nhân viên giảng huấn Khoa Giải phẫu cho trường Y khoa.

Sự hợp tác giữa giáo sư Henry Bahnson danh tiếng từ Đại học Pittsburgh và Gs Phạm Biểu Tâm tại Bệnh viện Bình Dân được coi là thành công nhất trong số những chương trình được AMA bảo trợ.

clip_image022

clip_image024

Hình 8c,d: Trung Tâm Giáo Dục Y Khoa trên đường Hồng Bàng, Chợ Lớn hoàn tất 3 năm sau (giai đoạn I), việc xây dựng một Bệnh viện Thực Tập hiện đại (giai đoạn II) phải ngưng vì những biến động chính trị cho tới 1975. [nguồn: internet]

Tưởng cũng nên ghi lại ở đây, tên tuổi của một học viên Bs Nghiêm Đạo Đại sau này đã trở thành một giáo sư phẫu thuật lừng danh trong chuyên khoa thay ghép / transplant tuỵ tạng-gan-thận ở Đại học MCP Hahnemann / Drexel, Pittsburgh nhưng anh Đại thì trước sau vẫn không quên ơn thầy. Anh viết: " Tôi đã thấm nhập những điều dậy dỗ của “lò Bình Dân”. Quả như vậy, sau khi vào ban giảng huấn Đại học Iowa bảy năm, trường Medical College of Pennsylvania / Hahneman / Drexel Pittsburgh hơn hai thập niên, tôi đã cảm nhận được là mình có phước rất lớn được học những tinh túy của các Thầy ở bệnh viện Bình Dân. Các Thầy đã trao cho tôi một hành trang đầy đủ để sử dụng trong suốt cuộc đời đi dậy học." (2)

clip_image026

Hình 9: Giáo sư Phạm Biểu Tâm tới thăm một Trung Tâm Y Khoa tại Minnesota (1960s), như bước khởi đầu hoà nhập hai hệ giáo dục Y khoa Pháp và Mỹ. [nguồn: hình tư liệu gia đình Gs Phạm Biểu Tâm]

clip_image028

Hình 10: Tiếp tân tại tư gia thầy Tâm cho buổi học Hậu Đại học Khoá 1972 từ trái: Bs Steven Reeder, Gs Phạm Biểu Tâm, Văn Kỳ Chương, Nguyễn Hữu Chí, Phan Văn Tường, Gs Anatolio Cruz, Gs Norman Hoover, Gs Đào Đức Hoành, Gs Phan Ngọc Dương, Văn Kỳ Nam, Lê Quang Dũng, Nguyễn Khắc Lân, Nguyễn Tiến Dỵ, Văn Tần, Nguyễn Đỗ Duy. [nguồn: hình tư liệu gia đình Gs Phạm Biểu Tâm]

Sau biến cố 1975, mặc dù phải sinh hoạt trong những điều kiện cực kỳ khó khăn, phải sống với bên thắng cuộc chỉ biết chuộng "hồng hơn chuyên."

Giáo sư Phạm Biểu Tâm vẫn sống hết lòng cho y nghiệp, thương mến chăm sóc bệnh nhân không phân biệt giàu nghèo, hay màu sắc chính trị nào. Thầy Tâm tiếp tục công việc dìu dắt giảng dạy nhiều thế hệ sinh viên y khoa. Như từ bao giờ, thầy Tâm thâm trầm, nhưng cương nghị, làm nhiều và ít nói. Trong nghịch cảnh, thầy không bao giờ biểu lộ sự giận dữ, vẫn nhỏ nhẹ nhưng thâm thuý và sâu sắc, câu nói giản dị của thầy vẫn cứ mãi được truyền tụng trong đám môn sinh: "cố gắng làm việc, lấy chăm sóc bệnh nhân làm nhiệm vụ trước mắt của người thầy thuốc."

Vẫn với kinh nghiệm của giới trí thức Hà Nội sau 1954, thuộc chế độ cũ, trước sau họ chỉ là thành phần được "lưu dung - không có dấu nặng" và không hề được tin cậy. Kinh nghiệm sau 1975 mà Giáo sư Phạm Hoàng Hộ đã từng trải qua, đó thực sự là một chặng đường đau khổ mà Giáo sư Hộ gọi đó là "những năm ảo vọng."

Năm 1984, Giáo sư Phạm Biểu Tâm buộc phải nghỉ hưu ở tuổi 71 sau một cơn tai biến mạch máu não/ stroke với liệt nửa người trái. Không có cơ hội hồi phục, năm 1989 Giáo sư Phạm Biểu Tâm đã phải rời bỏ quê hương yêu dấu, nơi mà Giáo sư đã dâng hiến gần trọn cuộc đời cho người bệnh, cho nền y học Việt Nam, để sang đoàn tụ với các con tại Hoa Kỳ.

MỘT CHÚT RIÊNG TƯ

Những dòng chữ này được viết cách đây 4 năm nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Gs Phạm Biểu Tâm.

Đây chỉ là hồi tưởng, ghi lại những kỷ niệm rất riêng tư với Gs Phạm Biểu Tâm – không phải từ trong các giảng đường hay bệnh viện mà là với một thầy Tâm ngoài đời thường. Trong suốt học trình y khoa, tôi chưa từng được là môn sinh gần gũi của Thầy nhưng lại cảm thấy rất thân thiết với Thầy trong các năm học và cả những năm đã rời xa trường Y khoa về sau này. Chỉ đảm nhiệm chức vụ Khoa trưởng 12 năm (1955-1967), nhưng dấu ấn ảnh hưởng của thầy Tâm trên các thế hệ môn sinh thì lâu dài hơn nhiều, kể cả những người chưa được học hay không biết mặt Thầy. (5)

Chỉ còn 2 ngày nữa là kỷ niệm 100 năm ngày sinh của giáo sư Phạm Biểu Tâm [13/12/1913].

Hôm nay ngày 11 tháng 12, 2013 là ngày giỗ của Thầy, vậy mà cũng đã 14 năm rồi [11/12/1999], và khi thầy Tâm mất, gặp Cô để phân ưu, thì được Cô nhắc là anh Vinh có thể có một bài viết về Thầy. Vậy mà chưa làm được điều ấy thì Cô nay cũng đã mất.

Tiểu sử giáo sư Phạm Biểu Tâm đã được bạn đồng môn Hà Ngọc Thuần từ Úc Châu tường trình khá đầy đủ – tưởng cũng nên ghi lại là anh Hà Ngọc Thuần đã cùng với anh Nghiêm Sĩ Tuấn từng là hai cây bút chủ lực của báo Y khoa Tình Thương, cùng biên soạn một công trình giá trị “Lịch Sử Y Khoa” với bút hiệu chung Hà Hợp Nghiêm, đăng từng kỳ trên Tình Thương cho tới khi báo đình bản 1967. (3)

Rất khác với vẻ uy nghi cao lớn của Gs Trần Quang Đệ, cũng là một nhà phẫu thuật lừng danh khác của Việt Nam, cùng trúng tuyển kỳ thi Thạc sĩ Y khoa tại Paris năm 1948, thầy Tâm có dáng nhỏ nhắn của một thư sinh, vẻ nhanh nhẹn của một tráng sinh, nét mặt thầy không đẹp nhưng ngời thông minh và có thể lột tả – theo ngôn từ của bạn đồng môn Đường Thiện Đồng thì “thầy có những nét của một quý tướng.”

Trước khi bước vào trường Y khoa, đã được biết tiếng về tài năng và đức độ của Gs Phạm Biểu Tâm, được nghe nhiều giai thoại về Thầy ngoài đời thường. Thầy là một trong những tráng sinh đầu tiên của ngành Hướng đạo Việt Nam từ những năm 1930 như biểu tượng của một thế hệ dấn thân. Tuy không là cầu thủ nhưng Thầy lại rất hâm mộ môn bóng đá; bạn bè trong Đại học xá Minh Mạng kể lại, Thầy thường có mặt nơi khán đài bình dân trong sân banh Tao Đàn, như mọi người Thầy cũng tung nón hò hét sôi nổi để ủng hộ cho đội banh nhà.

Đến khi được gặp, thì thấy thầy Tâm là một con người rất giản dị, tạo ngay được cảm giác gần gũi và tin cậy với người đối diện nhưng vẫn luôn có đó một khoảng cách dành cho sự kính trọng. Kỷ niệm của người viết với thầy Tâm như là những khúc phim đứt đoạn.

Từ 1963 tới 1967 là một giai đoạn cực kỳ xáo trộn ở miền Nam với liên tiếp những cuộc biểu tình xuống đường và bãi khóa của sinh viên mà phân khoa đầu não là Y khoa, lúc ấy vẫn còn tọa lạc nơi ngôi trường cũ 28 Trần Quý Cáp, Sài Gòn. Ở cương vị Khoa trưởng lúc đó thật khó khăn: thầy Tâm vừa phải duy trì sinh hoạt bình thường trong giảng đường và các bệnh viện mà vẫn tôn trọng tinh thần “tự trị đại học.” Thầy luôn luôn bao dung chấp nhận đối thoại và cũng do lòng kính trọng Thầy, các nhóm sinh viên y khoa tranh đấu lúc đó đã hành xử có trách nhiệm, trừ số rất ít cộng sản nằm vùng thì manh động theo chỉ thị của Thành ủy. Tình trạng thăng trầm của trường Y khoa trong cơn lốc chính trị với cả đổ máu ám sát tiếp tục kéo dài cho tới tháng Tư 1975.

clip_image030

Hình 11: Gs Phạm Biểu Tâm nói chuyện với SVYK trong một giảng đường 28 Trần Quý Cáp, Sài Gòn sau vụ Thầy bị bắt trước biến cố 1963. [nguồn: Life Magazine]

Khi tờ báo Sinh viên Y khoa Tình Thương ra đời đầu năm 1964, ở cương vị khoa trưởng, Gs Phạm Biểu Tâm tỏ ra tâm đắc với manchette của tờ báo mang tên “Tình Thương” mà thầy cho rằng ý nghĩa rất phù hợp với chức năng của những người Áo Trắng và thầy có viết một bài éditorial trên Tình Thương để giới thiệu tờ báo. Không nhiều biểu lộ nhưng chúng tôi hiểu rằng báo Tình Thương luôn luôn được hỗ trợ tinh thần của Gs Khoa Trưởng. Tình Thương không chỉ là tờ báo của những cây bút sinh viên mà khá thường xuyên còn có bài viết của các giáo sư y khoa như Trần Ngọc Ninh, Trần Văn Bảng, Nguyễn Đình Cát, Ngô Gia Hy và Vũ Thị Thoa…

clip_image032

Hình 12: Bìa Nguyệt san Tình Thương của Sinh Viên Y Khoa, Số 1 ra mắt tháng 01.1964, và bị đình bản cuối 1967 với 30 số báo. [nguồn: tư liệu Trần Hoài Thư; Thư Quán Bản Thảo]

Sinh viên Y khoa tới ngày tốt nghiệp ra trường, dân y hay quân y thì đều phục vụ trong quân đội, với các binh chủng chọn lựa hay được chỉ định. Là những bác sĩ trong thời chiến nên trước sau đã có một số đồng nghiệp hy sinh như các anh Đoàn Mạnh Hoạch, Trương Bá Hân, Đỗ Vinh, Trần Ngọc Minh, Phạm Bá Lương, Nguyễn Văn Nhứt, Trần Thái, Lê Hữu Sanh, Nghiêm Sĩ Tuấn, Phạm Đình Bách… chưa kể một số bị chết trong các trại tù cải tạo từ Nam ra Bắc, hay trên đường vượt biên sau này.

Riêng những người chết hay mất tích khi vượt trại tù, ít nhất có hai bạn mà tôi quen biết: bác sĩ Nguyễn Hữu Ân Nha Kỹ Thuật cũng là dân Đại học xá Minh Mạng, cùng với bác sĩ Vũ Văn Quynh binh chủng Nhảy Dù là anh ruột của bác sĩ Vũ Văn Dzi hiện ở Oklahoma.

Rất riêng tư, tôi không thể không nhắc tới một Trần Ngọc Minh, anh sống khá trầm lặng những năm sinh viên trong Đại học xá Minh Mạng, không những cùng dãy 7 mà còn ở ngay cạnh phòng tôi trong nhiều năm. Ra trường anh là một y sĩ Thủy quân Lục chiến, anh đã hy sinh trong một trận đánh khốc liệt tại thung lũng Việt An, tỉnh Quảng Tín 1965. Ít năm sau đó, một quân y viện mới trên đường Nguyễn Tri Phương ngay cạnh Trường Quân Y được khánh thành và mang tên anh.

Xúc động nhất là cái chết của Nghiêm Sĩ Tuấn, mà tôi được sinh hoạt gần gũi với anh trong tòa soạn báo sinh viên Tình Thương. Ra trường, sự kiện Nghiêm Sĩ Tuấn chọn binh chủng Nhảy Dù, theo người bạn thân của anh là Đặng Vũ Vương, nhận định đó là một chọn lựa “thử thách cá nhân”. Anh đã hơn một lần bị thương sau đó vẫn tình nguyện trở lại trận địa và đã hy sinh trên chiến trường Khe Sanh 1968 khi anh đang cấp cứu một đồng đội…

Do mối quan tâm tới các sắc dân Thượng từ thời làm báo sinh viên, ra trường tôi chọn phục vụ một đơn vị Lực Lượng Đặc Biệt với địa bàn hoạt động chủ yếu là vùng Tây nguyên; cũng trong khoảng thời gian này tôi có thêm chất liệu sống để hoàn tất tác phẩm Vòng Đai Xanh. Mỗi khi có dịp về Sài Gòn, tôi đều tìm cách đến thăm thầy Phạm Biểu Tâm. Trường Y khoa thì nay đã di chuyển sang một cơ sở mới có tên là Trung Tâm Giáo dục Y khoa trên đường Hồng Bàng, Chợ Lớn. Cũng để thấy rằng, tuy ở Sài Gòn nhưng Thầy luôn theo dõi và biết khá rõ cuộc sống quân ngũ của những học trò của Thầy ra sao.

Sau 1975, trừ một số ít đã được di tản trước đó, số bác sĩ còn ở lại trước sau đều bị tập trung vào các trại tù cải tạo. Từng hoàn cảnh cá nhân tuy có khác nhau nhưng tất cả hầu như đồng một cảnh ngộ: bị giam giữ trong đói khát, với lao động khổ sai và học tập tẩy não. Những bao gạo in nhãn “Đại Mễ” đầy mối mọt viện trợ của Trung Quốc được đưa vào nuôi tù cải tạo trong giai đoạn này. Không khác với các trang sách viết của Solzhenitsyn về Gulag Archipelago nhưng là Made in Vietnam, tinh vi hơn với phần học thêm được cái ác từ Trung Quốc.

Cũng thật trớ trêu, trại giam đầu tiên của tôi lại là Suối Máu, nơi từng là trung tâm huấn luyện của Liên đoàn 81 Biệt Cách Dù, một đơn vị mà tôi đã từng phục vụ. Như một chính sách ập khuôn, không giam giữ lâu ở một nơi, cứ sau một thời gian, các tù nhân lạri bị tách ra, di chuyển đi các trại khác. Từ Suối Máu, tôi lần lượt trải qua các trại Trảng Lớn Tây Ninh, Đồng Ban và trại cuối cùng là Phước Long Bù Gia Mập. Một số khác thì bị đưa ta Bắc, sau này được biết là điều kiện tù đày khắc nghiệt hơn rất nhiều.

clip_image034

Hình 13: Bài thơ với thủ bút của Gs Phạm Biểu Tâm tặng Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ (1975), Giải Khôi nguyên La Mã, người thiết kế Dinh Độc Lập và Trung Tâm Giáo Dục Y Khoa (1962) trên đường Hồng Bàng, Chợ Lớn. [nguồn: hình tư liệu gia đình Gs Phạm Biểu Tâm]

Ra tù ba năm sau, trở về một Sài Gòn đã thật sự hoàn toàn đổi khác. Ngôi trường cũ 28 Trần Quý Cáp góc đường Lê Quý Đôn rợp bóng cây xanh thì nay biến thành khu triển lãm “Tội ác Mỹ Ngụy”, không phải chỉ có trưng bày vũ khí súng đạn giết người, chuồng cọp với đủ dụng cụ tra tấn mà còn có cả sách báo nọc độc (sic) tàn dư văn hóa của “chủ nghĩa thực dân mới” trong đó có cuốn Vòng Đai Xanh.

clip_image036

Hình 14: Trường Đại học Y khoa cũ, 28 Trần Quý Cáp Sài Gòn, nơi từng đào tạo bao thế hệ bác sĩ, sau 1975 biến thành khu triển lãm "Tội ác Mỹ Nguỵ" [nguồn: internet]

Một hôm, tình cờ thấy Thầy Tâm đang đi bộ rảo bước trên khúc đường Trương Minh Giảng gần Tòa Tổng Giám Mục nơi góc đường Phan Đình Phùng. Dừng chiếc xe đạp cũ kỹ bên lề đường, tôi chạy tới chào Thầy. Thầy trò gặp nhau không nói gì nhiều nhưng tôi thì đọc được những xúc cảm trong ánh mắt của Thầy. Rất ngắn ngủi khi chia tay Thầy chỉ nhắc tôi hai điều: Vinh nên đi chụp một hình phổi và ra ngoài rồi cũng ráng ăn thêm một chút thịt. Đôi điều dặn dò ấy chứng tỏ Thầy Tâm biết rất rõ cảnh sống của các học trò Thầy trong trại tù cải tạo.

Khoảng đầu năm 1981, mấy ngày trước Tết Tân Dậu thầy trò còn ở lại có buổi họp mặt tất niên, bao gồm nhiều khóa, đông nhất là Y Khoa 68. Có được hai giáo sư Hoàng Tiến Bảo và Phạm Biểu Tâm tới dự. Tâm trạng của mọi người ngổn ngang lúc đó nên “vui là vui gượng kẻo là”. Thầy Tâm thì không uống rượu nhưng lại có mang rượu tới để chung vui. Thầy giơ cao chai rượu trước mặt các học trò và nói đại ý: “Lần này thì các anh thực sự yên tâm, đây không phải là rượu giả vì là chai rượu lễ của một Cha mới biếu tôi.” Trước sau, Thầy Tâm vẫn có một lối nói chuyện gián tiếp với “ngôn tại ý ngoại” như vậy. Không ai là không hiểu ý Thầy, muốn nói về một “thời kỳ giả dối” mà cả miền Nam đang phải trải qua.

Sau biến cố 1975, thầy Tâm tuy vẫn có được sự kính trọng và vị nể của chế độ mới, vì đức độ tài năng và nhân cách đặc biệt của Thầy. Thầy thì cứ như một nhà nông biết là thời tiết không thuận lợi, nhưng vẫn cứ cắm cúi vun xới thửa đất để cấy trồng. Trước sau, chưa bao giờ Thầy có phòng mạch tư, cuộc sống của Thầy rất thanh bạch. Hàng ngày toàn thời gian Thầy tới nhà thương Bình Dân khám bệnh, mổ xẻ và hết lòng chăm sóc người bệnh cùng với công việc giảng dậy cho các thế hệ môn sinh. Chế độ mới cần tới uy tín Thầy nhưng họ vẫn không bao giờ tin nơi Thầy. Bằng cớ là căn nhà của thầy Tâm trên đường Ngô Thời Nhiệm ít nhất đã hai lần bị công an thành phố xông vào lục xét. Và cứ sau một lần như vậy, không phát hiện được gì thì Thành Ủy đã lại đứng ra xin lỗi coi đó chỉ là hành động sai trái của thuộc cấp. Sự giải thích ấy thật ra chỉ là hai bản mặt của chế độ.

Tới năm 1984, đã ngoài tuổi 70, sau hơn 40 năm cầm dao mổ, sống tận tụy với người bệnh và các thế hệ môn sinh, thầy Tâm đột ngột phải nghỉ hưu vì một cơn tai biến mạch máu não. Năm ấy tôi cũng đã qua Mỹ, đoàn tụ với gia đình xa cách đã tám năm. Vừa chữa bệnh lao phổi vừa chuẩn bị đi học lại. Như truyền thống tốt đẹp của gia đình y khoa, các bạn bè qua trước đã đem tới cho tôi những thùng sách và cả textbooks; các bạn ấy đều đã đậu các kỳ thi, có người trước đó 3-4 năm nhưng vẫn chờ để được nhận vào chương trình nội trú trước khi có thể lấy lại bằng hành nghề.

Tôi đã phạm một lầm lẫn lúc đó, vội vàng học rồi thi FLEX/ ECFMG tuy đậu nhưng với số điểm không cao, có nghĩa là vào giai đoạn “đóng cửa” ấy rất ít hy vọng được nhận vào bất cứ một chương trình thực tập bệnh viện nào. Con đường trở lại y nghiệp xa vời vợi. Một giáo sư UCLA giới thiệu tôi vào chương trình MPH/ Master of Public Health, đây có thể là một cánh cửa khác, với cấp bằng Y Tế Công Cộng, tôi hy vọng có thể làm việc với WHO / Tổ chức Y tế Thế giới của Liên Hiệp Quốc tại các nước vùng Đông Nam Á hoặc Phi Châu.

Cũng lúc đó tôi được gặp lại giáo sư Hoàng Tiến Bảo và luôn luôn được thầy Bảo khuyến khích nên trở lại với y nghiệp. Thầy Bảo thì sáng nào cũng từ nhà đi xe bus tới nhà thờ dự lễ trước khi tới USC/ University of Southern California. Mỗi ngày hai thầy trò đều đặn vào Norris Medical Library, trên đường Zonal ngồi học, chờ ngày thi lại; cùng với Thầy đi làm clinical fellow không lương ở Department of Medicine / Hypertension Service với các Gs DeQuattro, Gs Barndt – không gì hơn để có được letters of recommendation của các giáo sư Mỹ, đồng thời làm quen thêm với môi trường bệnh viện bên này. Cho dù trước 1975 thầy Bảo cũng đã du học về Orthopaedics ở Mỹ và tôi thì cũng đã có một thời gian tu nghiệp về Rehab ở San Francisco.

Hệ thống y khoa Mỹ lạnh lùng và tàn nhẫn với bất cứ một bác sĩ ngoại quốc nào tới Mỹ theo diện di dân muốn hành nghề trở lại, cách đối xử khác xa với thành phần du học nếu sau đó trở về nước. Nhưng cũng có một nhận định khác cho rằng đó là sự tuyển chọn rất công bằng chỉ có ở nước Mỹ. Không là ngoại lệ, cả hai thầy trò phải đi lại từ bước đầu; trong khi đó ai cũng biết Thầy Bảo xứng đáng ở cương vị một giáo sư chỉnh trực giỏi của một trường đại học y khoa. Sau này, có thời gian làm việc tại các bệnh viện New York, tôi cũng đã chứng kiến hoàn cảnh vị giáo sư ObGyn đáng kính người Ba Lan phải đi làm EKG technician, rồi một bác sĩ giải phẫu người Nga thì làm công việc của một respiratory therapist. Họ là thế hệ thứ nhất tới Mỹ với tuổi tác không thể đi học lại từ đầu nên chấp nhận hy sinh lót đường cho thế hệ thứ hai vươn lên.

Thầy Bảo thì chỉ chú tâm lo cho học trò nhiều hơn là cho chính Thầy. Thầy đã từng đích thân đi xe bus tới nhà khuyên một học trò của Thầy nên tiếp tục học thay vì bỏ cuộc. Cho dù sắp tới ngày thi cử, thầy Bảo cũng vẫn dẫn một phái đoàn lên Medical Board trên Sacramento tranh đấu cho các học trò của Thầy ra trường sau 1975 được công nhận là tương đương và quyền trở lại y nghiệp.

Rồi cũng là một kết thúc có hậu. Thầy Bảo thi đậu dễ dàng rồi hoàn tất năm nội trú và có bằng hành nghề trở lại ở California. Riêng tôi thì phải khá vất vả thi lại hai ngày FMGEMS với score phải khá hơn trên 80 để có thể được các chương trình Residency nhận đơn và cho phỏng vấn. Vào tháng Ba 1988 qua ngả National Resident Matching Program/ NRMP, tôi được nhận vào một chương trình nội khoa của các bệnh viện Đại học ở New York. Cũng thầy Bảo là người đầu tiên chia vui với tin tưởng là học trò của Thầy cũng sẽ qua được chặng đường thử thách 3 năm trước mặt. Thầy Hoàng Tiến Bảo thì nay cũng đã mất (20/ 01/ 2008), tôi và cả rất nhiều học trò khác không bao giờ quên ơn và nhớ mãi tấm gương sáng với tấm lòng quảng đại và đầy nhân hậu của Thầy Bảo.

clip_image038

Hình 15: Gs Hoàng Tiến Bảo (phải) tới thăm Gs Phạm Biểu Tâm tại Tustin, Quận Cam Nam California [nguồn: tư liệu TSYS Canada]

GẶP LẠI THẦY CŨ GIÁO SƯ PHẠM BIỂU TÂM

Trở lại làm nội trú bệnh viện muộn màng ở cái tuổi 47, từ New York qua bạn đồng môn Đường Thiện Đồng, tôi được tin thầy Phạm Biểu Tâm mới cùng gia đình đi đoàn tụ và sống với các con ở Mỹ 1989 – cũng đã 5 năm kể từ ngày Thầy bị tai biến mạch máu não. Có được địa chỉ của Thầy ở Santa Ana California, tôi viết thơ thăm thầy Tâm và được Thầy hồi âm bằng lá thư viết tay. Nét chữ của Thầy còn rất đẹp. Tôi nhớ là thầy Tâm thuận tay phải và đoán chừng Thầy chỉ bị liệt nửa người bên trái.

[1] Santa Ana, 25-8-1989. Anh Vinh, tôi đã nhận được thiếp bưu điện anh gửi thăm tôi và gia đình. Thấy lại nét chữ lại nhớ lại hình ảnh của anh từ lúc anh còn ở Saigon. Sau này tôi có dịp trở lại chỗ anh làm việc cũ mà anh không ngờ, đó là Trung tâm Chỉnh Hình ở Bà Huyện Thanh Quan và Hiền Vương vì lúc ấy tôi đã sang giai đoạn vật lý trị liệu đều đều vì bệnh mới của tôi. Các cô tập cho tôi ở đây hỏi tôi có biết BS Vinh không? Tôi đã giả lời “Biết lắm chứ!” Rồi tôi nhớ lại tập sách anh viết và gởi cho xem lúc anh còn ở trong quân đội một thời gian…

Khoảng 1971-72 tôi có cơ duyên được đi học về Rehabilitation Medicine ở Letterman General Hospital, Presidio San Francisco, nên sau này với chuyên môn ấy, tôi có một thời gian giảng dạy và làm việc ở Trung tâm Y khoa Phục Hồi, 70 Bà Huyện Thanh Quan Sài Gòn. Một số các cô chuyên viên Vật Lý Trị Liệu được tôi đào tạo trong các khóa học này. Và thật không thể ngờ, ở một tình huống quá đặc biệt, trong nghiệp vụ thường nhật, các cô học trò cũ ấy lại được vinh dự chăm sóc một vị danh sư và cũng chính là bậc thầy của “thầy dậy các cô”.

Hình như Gs Phạm Biểu Tâm và Gs Nguyễn Hữu đã sang thăm đất nước Mỹ rất sớm. Khi nhận được một Postcard tôi gửi từ New York, thầy Tâm viết: “Anh Vinh làm tôi nhớ lại lần đầu tiên tôi đã đặt chân xuống thành phố New York năm 1951 cách đây non một nửa thế kỷ rồi! Lúc ấy còn là thời kỳ đi xem Empire State Building và Rockefeller Center là lúc thấy cái nào cũng ngẩng cổ lên mà đếm từng lầu. Cũng chả đếm hết được, rồi cảm giác đi “Ascenseur Tàu Suốt” một mạch được luôn mấy từng. Bây giờ đỡ thèm đi trở lại nhiều – thời nào cũng có cái thú của thời ấy.”

clip_image040

Hình 16: Gs Phạm Biểu Tâm và môn sinh Ngô Thế Vinh tại nhà riêng của Thầy, thành phố Tustin, Santa Ana 1990. [photo by Đường Thiện Đồng]

Qua một năm nội trú, từ New York với mùa đông giá lạnh ngập tuyết bước sang mùa hè nóng ẩm quá độ, nay tôi mới lại có dịp trở về vùng California nắng ấm để thăm thầy Tâm. Trong cảnh tha hương, cảm động và mừng tủi biết bao nhiêu khi được gặp lại Thầy, trên một lục địa mới ở một nơi xa quê nhà hơn nửa vòng trái đất. Được cầm bàn tay ấm áp và mềm mại của thầy Tâm trong bàn tay mình, rồi như từ trong tiềm thức của một hướng đạo sinh ngày nào, tôi siết nhẹ bàn tay trái của Thầy và chỉ có thể nói với Thầy một câu thật bâng khuâng “…đôi bàn tay này Thầy đã cứu sống biết nhiêu người.” “Có gì đâu Vinh.” Thầy xúc động và nghẹn ngào nói thêm một câu gì đó mà tôi không nghe rõ. Tôi hiểu rằng sau tai biến mạch máu não, người bệnh đều ít nhiều trải qua những biến đổi sâu xa về mọi phương diện ngoài thương tật thể chất, còn có những thay đổi về xúc động tình cảm và tâm lý. Và tôi nhận thấy được sự thay đổi nơi Thầy, từ một con người rất trầm tĩnh nay trở thành dễ bị xúc động về sau này.

MỘT DỰ ÁN LỊCH SỬ Y KHOA DỞ DANG

Thầy Tâm còn rất minh mẫn, trí nhớ hầu như nguyên vẹn khi Thầy nhắc về những ngày ở bệnh viện Phủ Doãn Hà Nội cho tới bệnh viện Bình Dân và trường Y Nha Dược ở Sài Gòn. Hồi ức ấy nếu được ghi lại, đây sẽ là những trang tài liệu vô giá nếu không muốn nói là độc nhật vô nhị cho bộ sách Lịch sử Trường Y Khoa Hà Nội - Sài Gòn.

Tôi mạn phép đề nghị đem tới Thầy một tape recorder thật gọn nhẹ để được Thầy đọc và ghi âm về những điều Thầy còn nhớ về Trường Y Khoa và sau đó tôi hứa sẽ làm công việc transcript. Nhưng tôi được thầy Tâm trấn an ngay: “Vinh đừng lo, công việc ấy đã có anh Nguyễn Đức Nguyên đảm trách và anh ấy sẽ làm chu đáo.” Tôi cảm thấy yên tâm vì được biết anh Nguyên trước đó cũng đã hoàn tất bộ sách rất công phu: Bibliographie des Thèses de Médecine [Tome I: Hanoi 1935-1954, Saigon 1947-1970; Tome II: Saigon 1971-1972, Hue 1967-1972].

Khi tôi trở lại New York, Thầy còn viết thư để tôi có thể liên lạc với anh Nguyễn Đức Nguyên, lúc ấy anh đang sống ở bang Maryland.

[2] Santa Ana 12-8-1990. Anh Vinh, cảm ơn anh đã dành thì giờ và tìm đến thăm tôi và cũng để cho tôi thăm lại anh. Trước hết xin phép trả nợ đã. Chép cho anh địa chỉ anh Nguyên như sau:

N. D. NGUYÊN c/o Kathy Nguyên 11616 Stewart Lane Apt # 302 Silver Spring, MD 20904

Thế là khỏi quên. Mong anh sẽ gặp lại được người làm đúng cái anh mong. Vì anh ấy đã có ý định rồi, anh cũng sẽ yên tâm. Thân ái chào anh, Phạm Biểu Tâm.

clip_image042

Hình 17: thủ bút Gs Phạm Biểu Tâm viết từ Santa Ana 12.08.1990 [nguồn: tư liệu Ngô Thế Vinh]

Giã từ New York sau 3 năm “cải tạo tự nguyện” – đây là ngôn từ của Vũ Văn Dzi, hành nghề ở Oklahoma VA là bạn đồng môn đã qua Mỹ trước từ 1979. Tôi trở về California năm 1991, làm việc trong một bệnh viện VA ở Long Beach mà bệnh nhân thì đa số là các cựu chiến binh Mỹ trở về từ Việt Nam. Thời gian này, tôi vẫn giữ liên lạc khá thường xuyên với anh Nguyễn Đức Nguyên, được theo dõi từng bước về công trình của anh Nguyên.

[3] Silver Spring, Feb 11, 1994. Anh Vinh thân mến, Anh có nhắc “Lịch sử Trường Y khoa Hà Nội – Sài Gòn” ở trang đề tựa khiến tôi thích thú bội phần; tôi vẫn nhớ anh khuyến khích tôi viết tập sách này từ lâu. Có thể nói phần đầu tới 1945 coi là xong rồi; phần Trường Y về ta tới 1954 và đến khi vào Sài Gòn cho tới khi có Hoa Kỳ giúp chính phủ Ngô Đình Diệm cải tổ giáo dục – nhất là giáo dục y khoa – thì còn thiếu một số tài liệu cần thiết: tôi đã nhờ một cô Mỹ trước làm với USOM Sài Gòn kiếm dùm; tôi cũng viết thư cho mấy người bác sĩ Hoa Kỳ trước kia cộng tác với Chương trình Trung tâm Y khoa để mượn tài liệu và hình ảnh. Archives của State Department rộng mênh mông, phải có chuyên viên mới tìm được. Sau khi AMA ký contract năm 1966-67 thì đã có cuốn sách “Saigon Medical School: An Experiment in International Medical Education” của các ông Ruhe, Singer & Hoover viết khá đầy đủ, chắc anh đã đọc rồi chứ? Sở dĩ lâu là vì chờ tài liệu và hình ảnh để bổ túc và cho sách thêm phần hấp dẫn; nếu chỉ có chữ không thì ít người muốn đọc…

Trong một thư khác anh Nguyên viết:

[4] Silver Spring, Dec 28, 1995. Cảm ơn anh đã hỏi thăm về tập Lịch sử Trường Y. Tài liệu thu thập đầy đủ cho phần đầu (Hà Nội – 1954). Còn phần thứ hai (Sài Gòn – 1975) đang tìm thêm ở Bộ Ngoại Giao / State Department cho đủ viết từ thời kỳ có viện trợ Mỹ. Tiện đây tôi muốn hỏi anh về việc liên quan tới xuất bản sách ở bên này: nhà xuất bản lo từ đầu tới cuối và mình sẽ hưởng tác quyền như thế nào? Nếu mình trình bày bằng “computer” và chỉ cần đưa in thì họ sẽ tính thế nào? Tôi dự tính sang chơi California trước Tết ta, nếu đi được sẽ tin để anh biết và có thể hẹn gặp nhau ở đâu nói chuyện dài về sách vở. Thân, Nguyễn Đức Nguyên

Khi được anh Nguyên hỏi về việc xuất bản sách ở hải ngoại, tôi lạc quan nghĩ rằng tác phẩm “Lịch sử Trường Y khoa Hà Nội – Sài Gòn” của anh đã bước vào giai đoạn hoàn tất. Anh Nguyên thì cầu toàn, muốn có một tác phẩm thật ưng ý mới cho ra mắt. Riêng tôi thì lại có mối quan tâm khác anh. Bởi vì anh Nguyên cũng đã bước qua khá xa tuổi “cổ lai hy” và điều gì cũng có thể xảy ra. Tôi nhớ đã có lần bày tỏ với anh Nguyên là chờ một tác phẩm toàn hảo thì không biết đến bao giờ và đề nghị với anh cứ cho xuất bản những gì anh đã hoàn tất, sau đó anh vẫn có thời gian và cơ hội để hoàn chỉnh.

Nhưng rồi rất tiếc là sau đó tôi mất liên lạc với anh Nguyễn Đức Nguyên, anh đã đổi địa chỉ, số phone và cả email. Được biết Anh Nguyên cũng gần tuổi với Gs Trần Ngọc Ninh (1923), anh cũng bước qua tuổi thượng thọ 90 rồi. Tôi cầu mong công trình của anh sẽ không bị thất lạc, rồi ra tác phẩm sẽ được ra mắt như sự tin cậy và mong đợi của giáo sư Phạm Biểu Tâm từ mấy thập niên của thế kỷ trước.

clip_image044clip_image046clip_image048

Hình 18: Bibliographie des Thèses de Médecine; Tome I: Hanoi 1935-1954, Saigon 1947-1970; Tome II: Saigon 1971-1972, Hue 1967-1972. [nguồn: tư liệu Ngô Thế Vinh]`

TRĂM NĂM CÒN LẠI CHÚT LÒNG TỪ BI

Ngày 13 tháng 12 năm 2013, nhân 100 năm ngày sinh của giáo sư Phạm Biểu Tâm 1913-2013, các thế hệ sau nhìn lại để thấy rằng thầy Tâm là người đã dày công xây dựng một trường Đại học Y khoa có truyền thống, cùng với một ban giảng huấn đầy khả năng và thành phần sinh viên được tuyển chọn công bằng và nghiêm khắc, dù trong chiến tranh, ngôi trường ấy vẫn có tiềm lực vươn tới một Trung tâm Y Khoa hiện đại với đẳng cấp thế giới / world-class; vậy mà từ sau 1975 cả một nền tảng tốt đẹp ấy đã bị chế độ cộng sản hoàn toàn làm cho băng hoại.

Nhớ lại khoảng thời gian được gần gũi với thầy Tâm, với tôi Thầy như một biểu tượng sống động cho lời thề Hippocrates, luôn luôn là tấm gương sáng cho các thế hệ y khoa, không chỉ về tài năng chuyên môn mà cả về đạo đức nghề nghiệp; Thầy vẫn cứ mãi mãi là hình ảnh “sẵn sàng dấn thân” của một Tráng Sinh Bạch Mã Lên Đường.

Giáo sư Phạm Biểu Tâm mất tại Hoa Kỳ ngày 11 tháng 12 năm 1999 trong sự thương tiếc của gia đình, các môn sinh và toàn thể y giới Việt Nam tại hải ngoại và cả trong nước, thương tiếc một vị danh sư đã để lại những dấu ấn lâu dài trong Ngành Y của Việt Nam từ thế kỷ trước.

Nhớ Thầy Phạm Biểu Tâm, đọc lại bài thơ thiền của Thầy, để tìm được nguồn an ủi:

Trăm năm trước thì ta chưa có

Trăm năm sau có cũng như không

Cuộc đời sắc sắc không không

Trăm năm còn lại chút lòng từ bi…

NGÔ THẾ VINH California, 20.07.2017

[Trích Tuyển Tập Chân Dung, sắp xuất bản]

Tham khảo:

1/ Trần Ngọc Ninh. Một Hình Bóng, Một Con Người, Giáo Sư Bác Sĩ Phạm Biểu Tâm. Tập San Y Sĩ, số 201, 05.2014

2/ Nghiêm Đạo Đại. Nhìn Lại Trường Y Khoa Đại Học Sài Gòn với Giáo Sư Phạm Biểu Tâm. Tập San Y Sĩ, số 201, 05.2014

3/ Hà Ngọc Thuần. Tiểu sử Giáo sư Phạm Biểu Tâm [1913-1999]. Tập San Y Sĩ, số 201, 05.2014

4/ Thân Trọng An. Giáo Sư Phạm Biểu Tâm, Biểu Tượng của Y Đạo, Y Học, Y Thuật. Tập San Y Sĩ, số 201, 05.2014

5/ Ngô Thế Vinh. Tìm Lại Thời Gian Đã Mất, Tưởng Nhớ Thầy Phạm Biểu Tâm. Tập San Y Sĩ, số 201, 05.2014

* Ghi chú: Một số hình ảnh hiếm quý trong bài viết được trích từ Album gia đình Giáo Sư Phạm Biểu Tâm. Cám ơn Anh Phạm Biểu Trung, đã scan các hình ảnh và gửi cho chúng tôi.

Người đeo lục lạc (kỳ 6)

Truyện của Võ Bá Cường


Chương 8: Cố hương

Con đường từ phố Đậu thành phố Thái Bình về làng Trà Vi. Sâm sẫm những ngọn cây, bao bọc lấy ngôi chùa cổ kính Trà Vi, nơi một thời đã giam lỏng vị trí thức yêu nước Lão thành cách mạng Nguyễn Hữu Đang.

Con đường cách đây 17 năm Nhà thơ Phùng Quán về thăm cụ Đang trong những ngày áp Tết. Để rồi: "Hai anh em ôm chặt lấy nhau giữa bậc cầu ao, và cả hai gương mặt già nua phút chốc đẫm lệ".

Tôi về lần này cốt để gặp cụ Nguyễn Kim Đoán, cũng là một Lão thành cách mạng, ở cái tuổi "thập thò cửa lỗ". Chẳng biết sống chết lúc nào? Cụ Đoán với ông Đang là con chú con bác, là người đón ông Đang từ nhà tù cấm cố Hà Giang về nuôi trong nhà hơn hai năm. Lúc đầu không có chế độ. Mãi sau được Ty Công an cho lĩnh mỗi tháng 20 đồng và cái sổ mua gạo mậu dịch 12kg một tháng. Về Trà Vi cũng do ngọn lửa từ nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt thổi sang tôi trong buổi tiếp kiến chiều 26 tháng 4 năm 2007. Hôm đó, Thủ tướng đã nhắc tới nhà Lão thành cách mạng kỳ cựu Nguyễn Hữu Đang quê ở Thái Bình.

Về Đồng Tâm: nghe, nhìn, ngẫm… buồn vui…

(Rút từ facebook của Nguyễn Nguyên Bình)


Đến địa phận xã Đồng Tâm, hỏi thăm đường về làng Hoành, may gặp một chị người làng, chị tận tình chỉ đường, nhưng lại dặn chúng tôi đừng hỏi thăm nhiều nữa, cứ đi như thế là đến nơi. Chị còn nhỏ giọng: “Hôm qua công bố kết quả thanh tra, “họ” chặn đường ghê lắm, trong cuộc họp, chỉ họ nói là chính, dân nói mấy câu là họ cắt luôn không cho nói”. Trời, chưa đi đến nơi mà đã nghe “mùi thuốc súng” rồi, lạ thế!

Vào tới sân nhà cụ Kình, một lát sau, nhiều người làng đã kéo đến, có lẽ mọi người biết tin những người bạn của Đồng Tâm mới về. Trong nhà, cụ Kình cũng loay hoay trở dậy để tiếp chúng tôi. Hỏi thăm sức khỏe và thương tật, thì cụ đưa ra tấm phim mới chụp, thấy rõ cái xương đùi bị vỡ, đã phải nẹp lại và bắt tới 11 con vít, vẫn chưa liền. Cụ nói cái xương ấy bị vỡ (chứ không phải gãy) làm mấy mảnh, còn xương mỏm trên đùi thì bị gãy không nối lại được, rồi đây có khỏi thì cũng thành tật, đi lại sẽ khó khăn lắm (về việc vỡ, gãy xương đó, vừa rồi trên mạng có người thắc mắc, cho rằng xương đã gãy làm mấy đoạn, lại không chữa trị ngay, với một cụ già như vậy mà chưa nguy đến tính mạng thì không tin được! Ai không tin có thể xem trên tấm phim này – trong ảnh). Sự kỳ lạ đó chỉ có thể giải thích đó là do hồng phúc tổ tiên, và cũng là sự may mắn hiếm hoi của làng Hoành.

Sơn Chà trong ảnh – trong tôi

FB Ngô Thị Kim Cúc

Trong tôi, Sơn Chà là bức bình phong màu xanh sẫm, vừa vững chãi vừa đẹp đẽ, làm nền và che chắn cho Đà Nẵng thân yêu của tôi trước bão tố biển Đông. Chỉ cần đặt chân đến khu vực bờ sông Hàn, từ khúc đường nào tôi cũng có thể nhìn thấy ngọn núi như một biểu tượng mà cũng vừa như một người bạn lớn, hết sức gần gũi thân thiết.

Những ngày đỉnh Sơn Chà phủ nhiều mây, khí trời sẽ dịu mát hơn so với ngày Sơn Chà xanh ngắt không một gợn mây. Chẳng cần là nhà dự báo khí tượng, tôi cũng tự nhận ra điều đó từ khi còn là cô học trò trung học, ngồi mãi ở ghế đá bờ sông tới mức thuộc lòng từng chuyển động của Sơn Chà.

Câu ca dao “Chiều chiều mây phủ Sơn Chà/ Lòng ta thương nhớ bạn nước mắt và lộn cơm” chắc cũng ra đời từ một ngày Sơn Chà phủ rất nhiều mây, và vì vậy, có lẽ đã gieo xuống đời tình của ai đó một cơn mưa ngập tràn nước mắt của cách trở, ngăn chia…

Xin hỏi ông Trương Minh Tuấn

Nguyễn Đăng Quang

Chắc phải là người có tài tuyên truyền, thuyết khách nên mới hơn 1 năm làm Bộ trưởng Thông tin-Truyền thông, ông Trương Minh Tuấn lại nhanh chóng được cho kiêm nhiệm thêm chức Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương ĐCSVN. Gần đây ông không chỉ thể hiện là Tư lệnh “thép” trong lĩnh vực Thông tin-Truyền thông, mà còn chứng tỏ là người tiên phong và có kiến thức uyên thâm trong lĩnh vực kinh tế vĩ mô! Có lẽ đây là bước chạy đà, chuẩn bị cho xuất TBT sắp tới? Nếu đúng vậy, xin được chúc mừng ông!

Cách đây không lâu, hệ thống thông tin-báo chí nhà nước đồng loạt đăng tải bài viết ca tụng “Sự phát triển ngoạn mục” của nền “Kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa” với tiêu đề “Sức thuyết phục của Kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa”, ký tên Trương Minh Tuấn. Tôi đoán tác giả đích thị là ông. Mặc dù ông rào trước đón sau là “không tranh luận về học thuật, mà chỉ đề cập đến các vấn đề thực tiễn trong quá trình phát triển của đất nước, và sự tiếp nhận của cuộc sống người dân, sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế đối với KTTT định hướng XHCN”. Song những độc giả, đặc biệt là những độc giả lớn tuổi không thể không thắc mắc, và muốn nêu lên những khúc mắc, mâu thuẫn rất cần tác giả giải đáp! Tôi không có ý định tranh luận với ông về học thuật, chỉ xin nêu vài khúc mắc cụ thể liên quan đến luận điểm mà ông cho là “được sự tiếp nhận của người dân, sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế đối với KTTT định hướng XHCN” được ông tô hồng trong bài viết của mình! Ý kiến ông thế nào, xin ông cho công bố công khai trên báo in và cả báo mạng do ngành ông quản lý, đồng thời, nếu có thể, xin ông vui lòng gửi vào hòm thư điện tử của tôi theo địa chỉ sau: DangQuang42@gmail.com. Tôi xin được trân trọng cám ơn ông nhiều!

Dạ Ngân với hai mảng đời sống xã hội trong Nước nguồn xuôi mãi

Mai Quỳnh

clip_image002

(Nhân đọc tập truyện ngắn Nước nguồn xuôi mãi của Dạ Ngân – NXB Phụ Nữ, 2008)


“Đọc lại đi!”, một tiếng nói từ xa thúc giục. Tôi đọc lại. May mắn! Nước nguồn xuôi mãi đã không phụ công tôi.

Hai mươi truyện ngắn vẫn in đậm phong cách Dạ Ngân gieo vào lòng người nhiều cung bậc tình cảm khác nhau. Những nỗi niềm trong lúc bất chợt Dạ Ngân muốn gửi gắm nhanh tới bạn đọc cũng đa chiều như chính cuộc sống. Những cuộc tình thủy chung, day dứt đợi chờ bên những mối tình thực dụng, chớp nhoáng. Không gian gia đình ấm êm đặt bên cạnh cảnh nhà xung đột, rối ren. Nét thảnh thơi của sự tự nguyện hy sinh bên nỗi ẩn ức bắt buộc tuân theo nền nếp lỗi thời. Những mất mát thầm lặng. Những người hùng không tên… Hiện lên trước mắt chúng ta vẫn là khung cảnh mênh mông sông nước Miền Tây cùng những con người quen thuộc: bà má, anh Hai, chị Ba, cô Tư mạnh mẽ, bộc trực, cam chịu. Đi xa hơn, Dạ Ngân đã đưa cây viết tới những nơi đô hội với bệnh viện, khoang tàu, góc phố, quán xá. Và, có thể là lần đầu tiên chị chạm tới Hà Nội. Thế giới nhân vật phong phú thêm: bác sĩ, nhà giáo, học trò, văn nghệ sĩ, người nội trợ, người mua bán dạo… của Miền Bắc, của riêng thủ đô thông qua lời ăn tiếng nói, cử chỉ giao tiếp đặc trưng của mảnh đất “chẳng thơm cũng thể hoa nhài…”.

Quyền và tiền

FB Chu Mộng Long

Bây giờ đã sang thế kỉ 21. Thế kỉ loài người đang thực hiện cuộc sống văn minh. Quyền lực là để phục vụ nhân dân. Tiền để đầu tư phát triển và tạo phúc lợi xã hội.

Thực hiện điều đó, Tổng thống Hàn Quốc phải ra Tòa và vào tù vì lạm quyền. Các tỉ phú có thể trở về tay trắng nếu vi phạm pháp luật.

Riêng ở xứ ta, Quyền và Tiền có thể ngang nhiên đứng trên luật pháp.

Ông cựu tướng có thể dài mồm sỉ mắng nhục mạ, đe dọa cảnh sát giao thông. Con gái một tỉ phú xem cảnh sát giao thông đang làm nhiệm vụ chỉ là tội nhân đáng bị lăng nhục giữa đông người.

Tôi thật sự "thấu cảm" với hai anh cảnh sát giao thông trong hai sự vụ nêu trên: nhũn nhăn, bất lực đến đáng thương.

Trong khi ở những trường hợp khác, với chiếc gậy trong tay, mấy anh cảnh sát đứng đường oai nghiêm sấm sét, muốn chặn xe nào cũng được. Tài xế xe đường dài mỗi lần bị chặn phải kẹp tiền vào sổ và khúm núm cầu xin. Mấy em sinh viên bị thổi phải năn nỉ hết nước miếng, có em kể khi trong ví chỉ còn 20.000đ, các anh cũng móc luôn!

Lưu Hiểu Ba có chết vô ích?

Bùi Mẫn Hân

Phạm Nguyên Trường dịch

clip_image002

Cái chết tương đối đột ngột của Lưu Hiểu Ba, nhà bất đồng chính kiến Trung Quốc đang bị giam cầm và cũng là người đoạt giải Nobel Hoà bình, là một tổn thất lớn. Nó cũng đưa ra một thông điệp mạnh mẽ: Lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) quyết tâm bảo vệ độc quyền chính trị của mình bằng bất kỳ phương tiện nào và với bất cứ giá nào.

Đánh hội đồng phụ nữ - công vụ của ngành an ninh?

FB Trịnh Kim Tiến

Tối ngày 16/07/2017, sau khi tham dự buổi lễ tưởng niệm niệm Lưu Hiểu Ba, nhà hoạt động nhân quyền Trung Quốc, cô Sương Quỳnh, thành viên CLB Lê Hiếu Đằng đã bị một đám thanh niên đạp xe, chặn đường đánh đập trên đường Nguyễn Thị Định, quận 2.

Người dân tại khu vực này nói với cô và công an phường gần nơi xảy ra sự việc, trong khi giải cứu cô khỏi đám người hung hãn kia, chúng tự nhận là công an khi bị người dân lao vào đánh. Những kẻ này nói với họ, chúng đang "đánh phản động".

Đây không phải lần đầu tiên công an, an ninh cậy quyền lực và số đông đánh hội đồng một người phụ nữ. Không biết từ bao giờ họ đã tự cho mình cái quyền sinh sát, đánh đập những người mà họ cho là "phản động", bất kể người những người đó là người già hay đàn bà.

Thơ Trần Mạnh Hảo

Đất nước có bao giờ buồn thế này chăng?


Đêm trường ma giáo mặt trời đỏ

Những dòng sông là đất nước thở dài

Chó sủa trăng nhà ai?

Không phải vầng trăng đất nước


Tôi ngồi ngót bảy mươi năm

Chờ một lời nói thật

Bầy sói tru ý thức hệ lang băm

Người nông dân bị cướp đất phải hát bài dân chủ

Đêm đêm thạch sùng tắc lưỡi bỏ đi

Người đeo lục lạc (kỳ 5)

Truyện của Võ Bá Cường


Chương 7: Làng Đán

Ông Đang ngồi nướng da trâu to bằng hai bàn tay trên đống lửa vừa được nhóm lên. Trời vẫn rét, Tết được vài ngày, ông liệng quanh bãi cỏ nhặt được miếng da trâu ở gốc cây sa mộc, hôm đồng bào mổ con trâu mộng ăn Tết vất da trâu lại, vẻ đã bốc mùi nhưng vẫn còn nhá được. Ông cắt vội miếng ở mông sau còn dính tý thịt bốc mùi thum thủm. Cứ để thế mà đốt! Ông thầm nói thế! Ông đốt đen thui cháy hết lông rồi bỏ vào nồi nước nóng ngâm. Được một lúc lấy móng tay cạo, đã thấy mềm mềm, ông mang về bếp dùng dao nạo hết chỗ cháy, nó được phơi ra lớp bì màu vàng suộm như chiếc vỏ bòng treo ránh bếp của các cụ dùng sắc thuốc. Bất chợt ông nghĩ lại ngày xưa bố ông cũng có miếng da trâu như thế treo ở ránh bếp, trẻ con hàng xóm đi kiết lị, thế nào cụ cũng dùng dao bài cắt một miếng bằng quai guốc lấy chày giã cua đập cho mềm cho nhà có bệnh đem về húi bếp trấu qua đêm cho trẻ ăn thế nào cũng khỏi lị.

Miếng da trâu thối ông nâng niu trên tay hít mùi cháy thơm, cũng không đến nỗi thối điếc mũi như người ta nói. Còn tạm ngửi được! Ông thầm nói thế!

Miếng da trâu đó ông bảo nó “thơm” là nó được “thơm” bảo “thối” được “thối”. “Thối” “thơm” là do con người ta và cái mũi của con người ta quyết định. Chuyện miếng da trâu thơm hay thối đều do con người ta nói ra theo cảm tính riêng mình. Cũng như hồi 1935-1936, ông Hoài Thanh bảo: “Tôi chỉ nói văn chương là văn chương” tôi không nói “Nghệ thuật vị nghệ thuật”. Làm công việc phân tích văn học theo tính khách quan mà thôi, chẳng hiểu sao họ lại nói việc phân tích của tôi có hại đến quyền lợi của giai cấp lao động”.

Quan Cộng sản

Phạm Đình Trọng

Cung cách ứng xử trong cuộc sống của đám quan cộng sản, từ quan trẻ, cấp nhỏ như bà phó chủ tịch quận Lê Mai Trang, tới quan già, cấp cao như trung tướng Võ Văn Liêm cho người dân nhận ra rằng đám quan chức cộng sản chỉ có hình hài của con người thể xác, con người sinh vật, tuyệt nhiên không có hình hài của con người văn hóa, con người xã hội.

Con người thể xác là sản phẩm của tự nhiên, của di truyền nòi giống. Con bò đẻ ra con bò. Con người thể xác chỉ là sinh vật trong tự nhiên, chỉ có phần “con” do cha mẹ sinh ra. Phần “con” đó dù cao 1,9 mét, nặng 90 kilogram hay chỉ cao 1,5 mét, nặng 40 kilogram cũng chỉ tính theo đơn vị con.

Con người văn hóa xã hội do chính mỗi người tự hình thành, tự tạo ra cho mình, tự sinh ra mình bằng cách tiếp nhận nền văn hóa xã hội của loài người để hình thành con người văn hóa của riêng mình, tạo nên hình hài “người” của mỗi người.

Văn học miền Nam 54-75 (330): Nhã Ca (21)

Giải khăn sô cho Huế

Chương 7

Chuyện từ thành nội

Không hiểu do một phép lạ nào mà ngôi nhà vẫn còn nguyên vẹn.

Chúng tôi sống chật hẹp trong chiếc hầm đào sâu xuống đất, trên miệng hầm, xung quanh chất toàn bao cát, như vậy là đã mười mấy hôm.

Chuyện gì? À, mấy ngày đầu. Mấy ngày đầu thì đâu có gì kinh hoàng. Cũng như các vùng khác, đêm mồng một, chúng tôi nằm lăn sát đất, chui cả xuống gầm giường vì tiếng súng bắn khắp mọi phía. Sáng ngày ra là Việt cộng đã đầy nhà, đầy vườn. Họ đi lại ngoài đường đông nghẹt. Ðồng phục à? Không. Họ vận đủ các thứ quần áo. Có tốp mặc áo ka ki hẳn hoi, nhưng phần đông họ mặc quần đùi. Ðặc biệt là người nào cũng có đeo băng màu nơi tay, hoặc quàng khăn nơi cổ.

Dân chủ giám sát?[1]

John Keane

Nguyễn Quang A dịch

Chương này đề xuất một sự xét lại căn bản cách chúng ta nghĩ về sự đại diện và dân chủ trong thời đại ngày nay. Nó định rõ một sự biến đổi lịch sử về các đường nét và động lực học của dân chủ đại diện. Nó bàn về lời xác nhận rằng từ khoảng nửa thế kỷ thứ hai mươi dân chủ đại diện đã bắt đầu biến thành một hình thức lịch sử mới của dân chủ ‘hậu-nghị viện-post-parliamentary’, và nó tìm hiểu một số lý do vì sao sự thay đổi này đã diễn ra. Nó đề xuất rằng các viễn cảnh ‘sự kết thúc của lịch sử’ và các ẩn dụ biển (‘làn sóng thứ ba’, lối so sánh biển có ảnh hưởng nhất của Huntington) là quá hạn chế để thấu hiểu sự thay đổi kỷ nguyên – quá gắn với các thứ trên bề mặt, quá bận tâm với các sự liên tục và dữ liệu tổng hợp – để nhận biết rằng các trào lưu chính trị đã bắt đầu chảy theo các hướng hoàn toàn mới. Phỏng đoán của tôi là, thế giới dân chủ hiện tồn thật đang trải qua một sự thay đổi lịch sử to lớn, mà đưa chúng ta khỏi dân chủ trực tiếp (dựa vào hội họp) và dân chủ đại diện của các thời quá khứ sang một hình thức dân chủ với các đường nét và động lực học hoàn toàn mới của sự đại diện.