Danh Ngôn

Những nhà văn xuất chúng luôn luôn là những nhà phê bình nghiêm khắc nhất đối với chính tác phẩm của mình.

(The best authors are always the severest critics of their own works.)

Lord Chesterfield, chính khách, nhà văn Anh. (1694-1773). Thư gởi con trai, 6 tháng Năm 1751

Tôi có một nhà phê bình đòi hỏi quá quắt hơn các bạn: đấy là cái tôi thứ hai của tôi.

(I have a critic who is more exacting than you: it is my other self.)

Jean Meisonier, họa sĩ Pháp. Trong tuyển tập của Alice Hubbard, An American Bible, tr. 192, 1946

Hỏi một nhà văn đang sáng tác ông ta nghĩ gì về các nhà phê bình cũng giống như hỏi một cột đèn cảm thấy thế nào về các con chó.

(Asking a working writer what he thinks about critics is like asking a lamppost how it feels about dogs.)

Christopher Hampton, nhà soạn kịch sinh tại Bồ Đào Nha 1946 hiện sống tại Anh. Trong Sunday Times, (London), 16 tháng Mười 1977

Ban biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Trịnh Y Thư: Say đắm bí ẩn với “Phế tích của ảo ảnh”

Phan Tấn Hải

clip_image002

Đi tìm ngôn ngữ mới của sáng tạo, trong khi lòng đầy các hoài niệm về quê hương, về một cuộc chiến đã trôi qua nhưng còn di lụy, về những người tình và những người bạn đã trở thành hình bóng trên mây… Từ vị trí đó, Trịnh Y Thư đã viết những dòng thơ – và như từ vị trí một người đứng chệch ra khỏi cõi này.

Thơ của anh là ký ức đau đớn, là những chữ viết được trân trọng chép xuống cho một cõi rất buồn, rất mực vắng vẻ, cho những gì như dường đã vuột ra khỏi bàn tay nắm giữ của con người, cho dù là anh làm thơ tiếng Việt hay tiếng Anh.

Mưa tháng chạp… mộng không thường

Tạp bút Vũ Hoàng Thư

Ngày tháng chạp trắng mơ sương lũng. Vệt nhớ quẹt ngang vẫy mặt, da diết lậm lừng trời. Ngây chao trong buổi sáng lạnh có mây hồng. Cơn gió thoảng mang mang ngày ấy, hải tảo ươm vàng, một thời rất xa. Khứu giác nồng toang ngái dậy. Người sống với niềm rêu, ôm trọn bão ngời, rộn chồn cơn sóng. Rong rêu kết tinh ôm quá khứ quấn chặt giữa lòng. Mùi hương ngầm chứa từ không khí, âm nhạc giấu đâu đó ở thinh không. Cuối năm khơi mở muôn nghìn lắng đọng trong vạn điều nhấp nháy thực tại. Có lẽ xuân đang khua bước trong từng ngày dậy. Khép lại cửa kính bỗng thấy mình thành ốc đảo giữa lòng đời. Người nằm gọn trong khoang gió, hiu hiu biển rộng vòng quanh. Ngoài khung kính, thế giới là cuốn phim quay chậm, xa lạ và vô cảm. Người trôi trong tiếng hát. Adamo lấp lửng mở ngày, Marie La Mer, chào em biển khơi, hải âu xòa bay gọi đàn oang oác. Tiếng guitar búng từng chùm ba, âm bass gọi giật như đẩy xô theo bực cấp xuống dần, xuống dần. Tôi tìm thấy em dưới kia biển xa vời vợi, lạ lẫm mỹ miều, Je t'ai trouvée, étrange et belle. Đôi mắt xanh, chẳng phải Marie La Mer, của Nha Trang sâu hút lòng người. Dư âm trở về từ duyên hải, gọi đảo xanh và biển khơi. Ở phút này là khoảnh khắc rơi ngoài, ra khỏi đời thường để nghe những đợt ngầm của nhớ.

Đọc thơ Xàm Cú của Nguyễn Viện

Vũ Thành Sơn

Nhà thơ Nguyễn Viện vừa giới thiệu 34 bài thơ ngắn đặt dưới một tên gọi chung: thơ Xàm Cú. Một lần nữa với những bài thơ Xàm Cú này, Nguyễn Viện cho chúng ta thấy một năng lực sáng tạo mạnh mẽ và cách tân độc đáo của ông.

Nhưng trước hết, tại sao lại là Xàm Cú?

Xàm Cú làm cho chúng ta liên tưởng đến thể thơ haiku truyền thống của Nhật Bản. Cũng cùng một bố cục ba dòng, tuy nhiên Nguyễn Viện không hề tuân thủ theo quy tắc bó buộc của haiku về âm tiết, hình ảnh, chủ đề…, mà trái lại, ông tung tẩy, phóng túng với ngôn ngữ để chuyển tải một thứ nội dung mà ông (hay chính chúng ta?) coi là Xàm.

Hãy đọc thử một vài bài trích từ Xàm Cú.

Văn học miền Nam 54-75 (467): Ngô Thế Vinh (11)


VÒNG ĐAI XANH (KỲ 5)

CHƯƠNG MƯỜI HAI

Tôi trở về với ý nghĩa một chuyến đi vô ích. Ông chủ nhiệm cho biết thiên điều tra cao nguyên phải chấm dứt tức khắc. Tòa báo gặp nhiều khó khăn không những trên Thông tin mà cả ở cơ quan An ninh. Giấy gọi lên An ninh phải được hiểu là một cảnh cáo nghiêm trọng. “Phá vỡ tình đồng minh và cố tình gây khó khăn cho chánh phủ”. Lời buộc tội thật hàm hồ và sự trừng phạt rất bất định. Với vận mệnh mỏng manh của tờ báo, chúng tôi đang làm một cuộc leo dây đầy nguy hiểm. Đã nhiều lần tôi tự nhủ không thể nín lặng được nữa, nhưng liệu chúng tôi sẽ kêu gào được gì. Sự tồn tại của tờ báo, lẽ sống thiết thực của nhiều người tùy thuộc vào đường lối tôi sẽ chọn lựa. Dù với bản chất nào của hoàn cảnh, chúng tôi cần thiết phải tồn tại. Loạt bài mới khởi đăng đã bị bỏ dở và tôi nghĩ sẽ còn lâu mới cầm bút trở lại nếu chưa tạo được một không khí. Với tình trạng này không chắc gì tôi sống lâu dài trong nghề báo. Giờ phút này tôi không còn suy nghĩ được một điều gì. Dường như có tiếng động của một cánh cửa bật mở, cô thư ký bước vào cho hay có một ông giáo sư tới kiếm khi tôi vừa rời tòa soạn buổi chiều, ông có để lại một danh thiếp. Tôi ngạc nhiên về sự xuất hiện tên của ông Hoàng Thái Trung. “Anh cũng quen biết ông Trung sao?”, Cô thư ký trở ra, vẫn trên khuôn mặt sáng rỡ đó là một tia mắt ranh mãnh giữa khe cửa vừa khép kín. Ông Trung có đọc những số báo vừa rồi, ông chú ý rất nhiều tới vấn đề tôi nêu ra, nhất là khía cạnh chi phối bởi người Mỹ. Ông tiếp, không ngờ chỉ sau một thời gian ngắn mới vào nghề báo, tôi đã nắm vững vấn đề cao nguyên đến như vậy và quan điểm của tôi đưa ra rất đứng đắn. Do đó ông Trung mong có dịp gặp lại tôi để cùng bàn về cái miền Đất Hứa ấy của Việt Nam mà theo ông, sau khi chiến tranh chấm dứt - chiến tranh nào mà chẳng phải chấm dứt, tương lai là ở miền đất hoang vu đó hơn là miền Hậu giang với những sông cùng rạch. Tôi đọc nhiều lần, cũng với những hàng chữ ấy và mỗi lần đều đem tới cho tôi ấnhững cảm xúc mới. Tôi mở ngăn kéo, gài tâm danh thiếp trên một mảnh bìa của tập tài liệu chưa đọc hết một phần ba. Trái với những ý nghĩ mệt nản, vẫn những ham muốn giục giã tôi phải viết tiếp trước khi những dữ kiện đó trở nên khô cứng và mất hết ý nghĩa.

Nhìn lại những gì còn khuất tất sau một bản án tử hình

Lê Công Tư

Bản án tử hình dành cho Đặng Văn Hiến là dành cho những người dân đã bị dồn ép, bức bách tới cùng đường. Nói cách khác là họ chỉ còn mỗi một con đường tao chết hay là mày chết.

Thử nhìn lại những gì còn khuất tất, tăm tối, mịt mờ: Sau cái bản án tử hình này là ai? Thế lực nào đã chống lưng cho công ty Long Sơn được chính quyền Đăk Nông giao cho 1079 hec ta đất để làm dự án nông lâm nghiệp?

Trong suốt thời gian xảy ra sự kiện này, chẳng ai thấy bóng dáng công an lẫn chính quyền địa phương ở đâu cả. Chỉ đến khi có ba người của công ty Long Sơn bị chết cùng với 13 người bị thương, còn về phía người dân thì một người bị chém nứt sọ với một phụ nữ bị đạp trụy thai, thì chính quyền địa phương mới vào cuộc. Trong khi chỉ cần nghe loáng thoáng ở đâu đó sắp có một cuộc biểu tình chống đối Trung Quốc lấn chiếm Biển Đông là công an đủ mọi sắc phục, hình tướng dưới đủ mọi dạng thức đã được huy động cùng đường, chật phố. Chẳng lẽ chính quyền địa phương không hay biết gì hay là giả đui, giả điếc để mặc công ty Long Sơn muốn làm gì tùy ý? Vẫn chưa ngừng ở đó, nghe nói Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình thay mặt chính quyền trung ương đề nghị chính quyền Đăk Nông ngăn chặn cưỡng chế, phải rà soát lại toàn bộ vụ việc thì chính quyền sở tại cũng chẳng buồn nghe. Dễ khiến người ta nhớ lại một câu nói của Thủ tướng Phan Văn Khải dạo nào: “Trên nói mà dưới có thèm nghe đâu”.

Văn Hải ngoại sau 1975 (kỳ 5): Nguyễn Thị Vinh

 

NTVSinh ngày 15.7.1924 tại làng Vân Hoàng tỉnh Hà Ðông;

chủ bút tạp chí Tân Phong (Sài Gòn).

Chủ nhiệm báo Ðông Phương (Sài Gòn).

Ðịnh cư tại Na Uy từ năm 1984.

Tác phẩm đã xuất bản:

· Hai Chị Em (truyện dài, Phượng Giang, Sài Gòn 1953)

· Thương Yêu (truyện dài, Phượng Giang, Sài Gòn 1955)

· Xóm Nghèo (truyện dài, Phượng Giang, Sài Gòn 1958)

· Men Chiều (truyện dài, Phượng Giang, Sài Gòn 1960)

· Thơ Nguyễn Thị Vinh (1972)

. Cô Mai (1972)

· Vết Chàm (1973)

· Na Uy Và Tôi (1994)

Biệt ly đình

Chiếc tàu nhỏ chạy chậm dần, chậm dần, tiếng máy cũ kỹ kêu xình xịch, từng hồi còi khàn khàn “hú... hụ... hú... hụ” như giọng người già giục giã khẩn thiết...
Lúc ghé bờ, nó va mạnh vào phao cầu tàu, mọi người nhốn nháo sửa soạn lên bến, đám phu gò người, níu chặt sợi dây “cáp”, quấn nhanh vào cây trụ sắt. Hai cha con cụ Lê lẫn trong đám hành khách lũ lượt lên bờ. Việt lơ đãng nắm tay cha. Lần đầu tiên trên đất nước Tàu anh cảm thấy lạc lõng giữa cảnh sinh hoạt ồn ào của người Tàu.

Nhớ lại bác Trần gái từ Việt Nam sang đã kể biết bao nhiêu chuyện ở quê nhà. Nơi Việt đã sinh ra, rồi rời bỏ từ lúc sáu tuổi, đến nay đã mười bốn năm. Kỷ niệm cũ đứt quãng và loáng thoáng như một giấc mơ, chỉ có hình ảnh của mẹ là Việt nhớ rõ, nhớ từ giọng nói đến ánh mắt hiền hậu. Việt cũng không quên thằng Nam, em trai anh. “Không biết bây giờ nó ra sao, chắc lớn lắm rồi?... Kém mình có hai tuổi chứ mấy.”
Qua khỏi cầu tàu, cụ Lê lên cơn ho rũ rượi, ho gập người lại, đổ nước mắt. Việt đỡ cha và hơi khó chịu vì những con mắt tò mò bao quanh người hai cha con. May mà ai cũng vội vã, tất tưởi. Ngớt cơn ho, cụ Lê nói lạc cả giọng: “Chắc hôm qua thầy ăn phải cái mắm tép, bác Trần gái mang ở Việt Nam sang, ăn thì ngon thật nhưng cũng độc. Gớm, mười mấy năm nay, giờ mới lại được chấm đũa vào cái món ấy. Hồi trước mẹ con làm mắm tép là khéo lắm cơ đấy...”.

Trung tâm Đà Lạt: làm đẹp hay phá vỡ không gian kiến trúc?

Mai Thái Lĩnh

Ngày 2/1/2018, trên báo Tuổi Trẻ có bài viết nhan đề “Lo ngại không gian đặc hữu Đà Lạt bị phá vỡ”, trong đó nêu lên mối lo ngại về việc không gian kiến trúc của Đà Lạt có thể bị phá vỡ vì dự án 3.000 tỷ nhằm “biến khu Hòa Bình (TP Đà Lạt) thành một trung tâm thương mại - dịch vụ phức hợp hiện đại”.

Để biện minh cho nhu cầu hiện đại hóa toàn bộ khu trung tâm cũ, ông Lê Quang Trung – Giám đốc Sở Xây dựng tỉnh Lâm Đồng, giải thích: “khu Hòa Bình được xác định là khu đô thị du lịch tầm cỡ quốc gia và quốc tế”, trong khi “xét về thực tế, khu trung tâm này chưa đạt được tầm vóc tương xứng của nó về các yếu tố lịch sử, văn hóa và du lịch.”

Về nội dung của đồ án, ông cho biết:

- Trong diện tích 30ha được quy hoạch theo đồ án, sẽ giao khoảng 6ha (khu vực rạp Hòa Bình) để Công ty cổ phần địa ốc Đại Quang Minh đầu tư xây dựng khu trung tâm thương mại hiện đại. […] Theo dự kiến, cuối tháng 1-2018, "Đồ án quy hoạch chi tiết và thiết kế đô thị - tỉ lệ 1/500 khu vực trung tâm Hòa Bình, TP Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng" sẽ được phê duyệt xong và sau đó tiến hành công tác giải tỏa, xây dựng một trung tâm mới gần như hoàn toàn.

- Theo quy hoạch, khu Hòa Bình sẽ được xây dựng thành một khu trung tâm thương mại có khách sạn 5 sao, có các khu dân cư chỉnh trang và một không gian công cộng từ trung tâm Hòa Bình xuống chợ Đà Lạt đến đường Lê Thị Hồng Gấm, từ phía trước chợ trải dài đến bùng binh cầu Ông Đạo.”

Để trấn an mối lo ngại “công trình hiện đại sẽ làm mất cây xanh, ông Trung cho biết “quy hoạch mới sẽ khống chế chiều cao các tòa nhà tại khu trung tâm này, tất cả đều không được vượt quá 5 tầng. Tất cả các khu vực đã có cây xanh vẫn đảm bảo giữ lại tuyệt đối. Đặc biệt, khi làm quy hoạch này chúng tôi cũng đã gắn với hồ Xuân Hương. Tại đây, các khu vực dân cư ở đường Phan Bội Châu, giáp với chợ sẽ giải tỏa để trồng cây xanh đô thị và hoa, hay là khách sạn Hải Sơn cũng sẽ giải tỏa, tất cả công trình trước chợ sẽ giải tỏa, thay thế bằng không gian hoa, không gian công cộng có hoa, cây xanh, thảm cỏ, giảm mật độ xây dựng toàn khu, không cất thêm công trình".

Tương quan lực lượng năm 2017 và trò chơi bấm nút

Thế giới năm 2017 quả thật là một năm đầy biến động. Nước Đức hùng mạnh bị lao đao với nạn nhập cư ào ạt và Đảng Dân chủ Thiên chúa giáo của bà Merkel tuy chiến thắng nhưng đang lao đao vì cho đến tháng 1/ 2018 vẫn chưa thể lập chính phủ mới vì Đảng Dân chủ Xã hội đã tẩy chay không tham gia chính phủ trong khi Đảng cực hữu AFD sau hơn nửa thế kỷ lại có mặt trong Quốc hội Đức! Tổng thống Syria  Assad với đồng minh chống lưng Putin vẫn tiếp tục độc tài kéo dài cảnh nồi da xáo thịt tan hoang của đất nước này. Rồi cảnh căng thẳng giữa các nước Hồi giáo theo phái hai phái sumi và shia càng thêm rối ren các nước vùng  Vịnh. Rồi Venezuela "xã hội chủ nghĩa" đang thảm bại sắp hết hơi là lời cảnh tỉnh cho những ai ngo nghoe khoe chủ nghĩa xã hội và cộng sản.

Nhưng thời sự nhất vẫn là cuộc đấu võ mồm giữa Ủn và Trump về tên lửa và vũ khí nguyên tử dọa hủy diệt lẫn nhau...

Họa sĩ biếm họa Gargalo với hai bức tranh biếm họa này đã lột tả một cách hài hước nhưng sâu cay sự phức tạp và nguy hiểm thế giới của chúng ta hiện nay. Hi vọng năm 2018 sẽ đỡ căng thẳng hơn.

Lý Trực Dũng

Kẻ Di Truyền Sách (kỳ 4)

Trần Vũ thực hiện

clip_image002

Tranh Aurélien Diot

clip_image004Trần Vũ: Qua anh trình bày trong 2 tập 1300 trang Tôi Không Biết: Wislawa Szymborska, tôi hiểu bà khước từ những phô trương thái quá của các phái tiền vệ (Avant-Garde), bà tránh lộng ngôn, lộng ngữ, thậm chí sức hiển lộng của câu chữ đối với bà, là giả dối. Szymborska khai tử các xung lực trữ tình và xếp vào tủ áo những tra vấn. Bà đi tìm hài hước một cách thanh lịch, kết hợp cứng rắn với cảm xúc nhưng giữ một khoảng cách, và xem đời sống hằng ngày là vũ trụ, đích đến của thi ca. Szymborska chú ý đến những chi tiết thường nhật. Nhưng ngôn ngữ của bà không đáp ứng những gì Aristote đặt để: “Phẩm chất của văn, là phải sáng sủa mà không tầm thường: mà văn trong sáng nhất là văn phối kết với các từ thông dụng, nhưng như vậy lại tầm thường: ví dụ điển hình là thơ Cléophon hay thơ Sthénélos. Văn quý tộc thoát ra khỏi sự dung tục, là văn vận dụng các từ lạ. Qua chữ « từ lạ », tôi muốn nói từ hiếm, phép ẩn dụ, sức mở rộng và tất cả những gì tách khỏi lối viết thông thường.” [Thi ca, Aristote, Dẫn nhập, Diễn Giảng và Ghi chú của Michel Magnien, 1458a, XXII, trang 142, tủ sách Livre de Poche/ Aristote, Poétique, Michel Magnien, Les Classiques de Poche, 1990].

Lí luận văn học Nga hậu xô viết (5)

Lã Nguyên


II. M.M. Bakhtin và lí thuyết thể loại văn học

Mikhail Mikhailovits Bakhtin không chỉ là nhà triết học, mà còn là nhà mĩ học, văn hóa học và nghiên cứu văn học lỗi lạc nhất của thế kỉ XX. Từ cuối những năm sáu mươi của thế kỉ trước, ông đã được phương Tây biết tới và đánh giá cao; sáng tác, tư tưởng cuộc đời và nhân cách của ông nhanh chóng trở thành đối tượng quan tâm nghiên cứu, kiến giải ngày càng sâu rộng trên trường quốc tế, đến mức hiện nay hoàn toàn có cơ sở nói về một bộ môn “Bakhtin học” trên quy mô toàn cầu, với nhiều trung tâm ở nhiều nước phát triển. Những tư tưởng thiên tài của ông ngày càng có ảnh hưởng sâu rộng tới sự phát triển của khoa học nhân văn trên phạm vi toàn thế giới.

Trong di sản lí luận văn học phong phú, đa dạng của M. Bakhtin, nội dung độc đáo nhất, chắc chắn, thuộc về lí thuyết thể loại văn học của ông. M. Bakhtin cho rằng: “Không thể có tác phẩm nằm ngoài thể loại. Tác phẩm chỉ tồn tại trong một hình thức thể loại cụ thể”[1]. Theo ông, “nhân vật chính yếu” của lịch sử văn học là thể loại; lịch sử văn học là lịch sử đấu tranh giữa các thể loại, chứ không phải là lịch sử trào lưu và trường phái”[2]. Cho nên, khi bàn về văn học, M. Bakhtin bao giờ cũng dành cho vấn đề thể loại một vị trí đặc biệt.

Những đêm trắng

Truyện lịch sử Khuất Đẩu

Nhân kỷ niệm 110 năm ngày sinh vị anh hùng dân tộc Nguyễn Thái Học (01/12/1903- 01/12/2012)


Đêm ở đền Thượng

Đó là một đêm đầu xuân, ánh trăng mỏng quá không soi rõ được mặt người. Những bậc tam cấp cứ nối nhau lên cao, lên cao mãi như vút tận trời. Một đàn chim Lạc từ đâu bỗng bay qua, tiếng đập cánh làm đong đưa những chòm sao xanh biếc.

Đêm thánh vô cùng!

Họ đi lễ đền Thượng.

Lễ vật không có bánh chưng bánh giầy. Chỉ có trầu, cau và hai trái tim thắm đỏ.

Chàng nói, “Hôm nay, anh cưới em!”

Nàng nói, “Em cũng cưới anh, hôm nay!”

Họ cùng nói, “Thưa quốc Tổ, chúng con xin cưới nhau!”

Nghe như có tiếng cười từ ái reo vui của các vua Hùng.

Chùm thơ Xuân Nguyễn Đăng Hưng

1.    Bài thơ Xuân Tân Mão
(Tôi chọn mùa Xuân làm cơ ngơi)


Cho dù mùa Đông đã đến cận kề
Tôi vẫn thấy mùa Xuân qua khung cửa sổ
Cho dù năm tháng còn dài lê thê
Tôi vẫn thấy mùa Xuân qua như hơi thở

Cho dù mây đen còn bao kín ngõ
Tôi vẫn thấy mùa Xuân đọng lại mi em
Cho dù mưa bay, cho dù lá đổ
Tôi vẫn thấy mùa Xuân xuyên qua bóng đêm

Nhà văn Nguyễn Viện, sống, như một mũi tên

Du Tử Lê/Người Việt

Nhà văn Nguyễn Viện. (Hình: Diễn Đàn Thế Kỷ)


Tôi e rằng mặt bên kia của hữu ích tuyệt vời mà Internet đã đem đến cho thời đại chúng ta, lại chính là những đáng tiếc không thể tránh khỏi. Tôi muốn nói, có rất nhiều tin giả, thậm chí tin tức, bài vở xúc phạm tới danh dự, đời tư của cá nhân người khác! Chúng vẫn được loan tải một cách thoải mái, “vô tư!”

Sự kiện hai chiều thuận/ nghịch này cũng khiến cho một số người bị hàm oan. Họ như nạn nhân, con tin của dư luận khen/ chê, ngợi ca và phỉ báng tối tăm, chứa đầy gân máu ganh tị, hiềm khích mù lòa, nhất là ở lãnh vực văn học và nghệ thuật…

Một nhà văn bị nhiều dư luận xăm soi nhất theo tôi là Nguyễn Viện. Nhưng ông vẫn thản nhiên, dễ chừng, nhờ ông có được nội lực thâm sâu hơn người (?) Có người cho rằng tính ngang, ngạnh của họ Nguyễn cho cảm tưởng: Nhà văn Nguyễn Viện, sống, như một mũi tên.

Nhận xét chung, cho rằng, dù ở cực nào bênh vực hay chê bai thì những người bênh/ chống ông, đều cho thấy tính nhiệt tình, tích cực nhất – như thể nếu thiếu cảm tính quyết liệt này, họ sẽ không tìm đến ông. Không ở sát bên hay, vạch một đường phấn dứt khoát ngăn cách (dù âm thầm), giữa ông và họ.

Cá nhân tôi, không được biết nhiều về ông, cho tới hai năm gần đây.

Vì sao Không Nga?


Thay cho câu trả lời, xin giới thiệu bài viết của nhà văn Nga Dmitri Bykov, tiến sỹ Tâm Trần dịch và giới thiệu, và cho phép tôi đăng lại trên trang "Người Việt hôm nay" này.

Vì sao Không Nga?
"Hai phần ba số người Nga không phản đối việc dựng các bảng khắc, các bức tượng tưởng niệm Stalin ở những nơi công cộng. Nhưng nếu chỉ thế thì không có gì đáng nói. Điều đáng nói là nếu việc này trở thành hiện thực, thì lập tức ba phần tư người Nga sẽ phản đối. Vấn đề là ở chỗ cũng lại chính là những người Nga đó. "
Xin mời các bạn đọc

LỜI GIỚI THIỆU

Vừa qua tôi có một cuộc nói chuyện thú vị với nhà nghiên cứu văn hóa và phê bình văn học Vương Trí Nhàn về nước Nga. Ông Nhàn đã từng sống và làm việc ở Liên Xô vào cuối thập niên 1980 và từ đó chưa có dịp quay lại nước Nga.

Đất nước, con người và văn hóa Nga đã để lại cho ông nhiều ấn tượng tốt đẹp. Ông Nhàn cũng là người giới thiệu cho độc giả Việt Nam nhiều tác phẩm của các nhà văn và các nhà nghiên cứu Nga và Xô Viết.

Ấn tượng nhất đối với tôi trong câu chuyện với ông Nhàn là tình yêu đặc biệt của ông dành cho những tác phẩm và con người nhà văn Xô Viết Ilya Erenburg. Một tình yêu từ thủa hoa niên không thay đổi theo năm tháng.

Một điều không ngạc nhiên vì từ lâu tôi đã nhận thấy có một mối thiện cảm khác thường của người Việt Nam, đặc biệt ở các thế hệ đi qua chiến tranh với đất nước, con người và văn hóa Nga. Kể cả ở những người Việt Nam chưa từng một lần đến nước Nga.

Vì vậy đối với tôi, thật không dễ dàng để nói với họ về những sự thật không mấy dễ chịu về nước Nga ngày nay và Liên Xô ngày xưa. Câu chuyện với ông Vương Trí Nhàn về nước Nga cũng không ngoại lệ.

Trả lời câu hỏi: “Nước Nga hiện nay thế nào?” của ông, tôi đã nói suy nghĩ thực của mình: “Nước Nga hiện nay đang ở trong trạng thái ngưng đọng thời gian lịch sử. Nước Nga không hề có một dự án tương lai rõ ràng, khả thi. Nước Nga cần có một thế hệ lãnh đạo mới, những người trẻ với những giá trị khác. Một thế hệ trẻ có cách nhìn thế giới và vị trí của nước Nga trên thế giới hoàn toàn khác. Và trước hết người Nga phải biết tạo cho mình một huyền thoại mới về chính nước Nga, thay cho huyền thoại về nước Nga một “pháo đài bị bao vây” hiện nay”.

Ông Nhàn có vẻ hơi thất vọng về câu trả lời của tôi nhưng không hề ngạc nhiên. Từ nay đến bầu cử tổng thống Nga tháng 03.2018, tôi xin phép giới thiệu tiếp tục một số bài viết của giới học thức tinh hoa Nga về nước Nga, để góp phần làm sáng tỏ thêm những sự thật không mấy dễ chịu về nước Nga hiện nay. Một trong những sự thật không dễ chịu này, là về nhiều phương diện nước Nga đang ngày càng thua kém Trung Quốc. Một nước “đàn em” của Liên Xô trước đây.

Tháng 10.2017, sau khi Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ XIX kết thúc, thông tin về diễn biến Đại hội này và các mục tiêu của chương trình phát triển Trung Quốc sắp tới đã tràn ngập truyền thông và thế giới mạng Nga. Những thông tin này được sự quan tâm đặc biệt chăm chú của các nhà nghiên cứu và giới tinh hoa mọi lĩnh vực nước Nga.

Trong những thông tin này, gây chấn động hơn cả cho giới tinh hoa Nga là thông tin về việc lãnh đạo Trung Quốc có dự án xây dựng một “xã hội thịnh vượng vừa phải” vào năm 2020. Một dự án tương lai tham vọng nhưng có vẻ không hề ảo tưởng.

Có thể nói đây là “cơn địa chấn” thứ hai đến từ Trung Quốc kể từ đầu 2015, khi những thông tin về việc lương trung bình ở Trung Quốc đã vượt lương trung bình ở Nga, lương tối thiểu và lương hưu của người Trung Quốc cao hơn người Nga nhiều xuất hiện lần đầu tiên trên truyền thông Nga.

Tôi xin phép tiếp tục câu chuyện về nước Nga bắt đầu bằng bài viết của nhà văn, nhà chính luận Nga nổi tiếng Dmitri Bykov. Bài viết với tiêu đề “Nước Nga già cỗi” đăng trên báo mạng profile.ru ngày 23.07.2017.
************************
NƯỚC NGA GIÀ CỖI

http://www.profile.ru/pryamayarech/item/118613-staraya-ross

Nước Nga ngày nay đang ở trạng thái treo, nằm ngoài thời gian lịch sử, không phát triển và không chết, mà rơi vào khoảng không gian giữa cuộc sống và cái chết.

Hai phần ba số người Nga không phản đối việc dựng các bảng khắc, các bức tượng tưởng niệm Stalin ở những nơi công cộng. Nhưng nếu chỉ thế thì không có gì đáng nói. Điều đáng nói là nếu việc này trở thành hiện thực, thì lập tức ba phần tư người Nga sẽ phản đối. Vấn đề là ở chỗ cũng lại chính là những người Nga đó.

Điều đáng buồn nhất ở nước Nga hiện nay là tất cả những tin tức mới nhất đều liên quan đến các bậc trưởng lão trong xã hội, và tất cả các sự kiện thời sự nhất đều có nguồn gốc sâu xa từ trong lịch sử của chúng ta.

Ekip phụ tá của tổng thống chẳng vẽ ra được một hình ảnh nào của tương lai. Mà nói đến tương lai làm gì khi ngay cả hiện tại cũng không có! Nước Nga đang sống với quá khứ, nhưng ngay cả đến hình ảnh của quá khứ cũng khá nhàm chán. Một quá khứ chỉ bao gồm hình ảnh của Ivan Hung Đế, Stalin, Zhukov, Gagarin, Nikulin-Vitsin-Morgunov (bộ ba nghệ sỹ nổi tiếng Liên Xô chuyên đóng các phim hài những năm 1960-1970).

Nước Nga ngày nay là đất nước của những người già, không phải già về mặt tuổi tác, mà là về phương diện tâm lý và tinh thần. Nước Nga có đầy đủ những biểu hiện của tuổi già như việc sợ sự thay đổi, việc bám víu vào quá khứ và quan tâm quá mức đến nó. Một biểu hiên nữa của tuổi già là người ta không nhớ những gì xảy ra hôm qua, nhưng có thể dễ dàng nhớ lại những gì diễn ra 50 năm trước.

Rồi thì sở thích tích cóp lẩm cẩm, thậm chí như một triệu chứng bệnh lý, khi người ta không vứt đi bất cứ thứ di sản tinh thần nào, còn những thứ gì có được thì xếp chung vào một đống. Một đặc trưng khác của tuổi già là việc căm ghét người trẻ tuổi, hãy nhớ lại chúng ta đã giận dữ như thế nào với đám học sinh tham gia biểu tình chống tham nhũng (ngày 26.03.2017 ở rất nhiều thành phố nước Nga đã diễn ra những cuộc biểu tình chống tham nhũng, mà thành phần tham gia chủ yếu là sinh viên và học sinh – ND).

Tóm lại, nước Nga của chúng ta có đủ các yếu tố của một tuổi già thông thường. Điều khác biệt của riêng nước Nga tuổi già, là một tuổi già nghèo túng và bị quên lãng.

Cách đây ít lâu tôi có cuộc nói chuyện với các đồng nghiệp nhà văn, những người cùng thế hệ tôi và trẻ hơn (nhà văn Dmitri Bykov sinh năm 1967) về vấn đề tại sao chúng ta không có các tiểu thuyết về thời hiện tại? Chỉ có một vài tiểu thuyết phản huyễn tưởng về tương lai (tiểu thuyết viễn tưởng hầu như vắng mặt). Trong khi có rất nhiều tiểu thuyết lịch sử về Ivan Hung Đế, Piotr Đại Đế, thậm chí về Lenin, nhưng lại không có tiểu thuyết nào về nước Nga hiện nay.

Tại sao? Đơn giản vì rằng chẳng biết nên viết về điều gì cả, đất nước ở trạng thái treo, nằm ngoài thời gian lịch sử, không phát triển nhưng mà không chết, và như anh thợ săn Gracchus trong tác phẩm Der Jäger Gracchus của Kafka rơi vào khoảng không gian giữa cuộc sống và cái chết. Chúng ta có thể tồn tại như vậy rất lâu tùy ý muốn, trong tình trạng một nước Nga với các tỉnh đổ nát, lạc hậu và tăm tối.

Nhưng bù lại nước Nga có một Moskva được chăm bẵm, khá sáng sủa và phát triển. Nước Nga còn có một nước Thổ Nhĩ Kỳ láng giềng, một thiên đường nghỉ dưỡng được người Nga rất ưa thich, đến mức phần lớn người Nga nhầm tưởng đó là một phần của lãnh thổ nước Nga.

Nhưng nếu gọi sự tồn tại như vậy là cuộc sống thì tôi xin kiếu. Đặc biệt là nếu tính đến việc để bảo tồn một trạng thái đời sống tồi tệ như vậy, chúng ta phải duy trì những dòng tuyên truyền nhà nước mạnh mẽ đầy dối trá, một hệ thống chính quyền tham nhũng và thêm cả những cuộc xâm lăng ra bên ngoài. Mà thiếu nó chúng ta không thể giữ vững được tòa tháp quyền lực nhà nước, không đoàn kết được dân chúng.

Tôi thậm chí còn chẳng muốn nói đến những gì đã và đang diễn ra với y tế và giáo dục, với công ăn việc làm và lương bổng. Còn về cơ hội thăng tiến và phát triển của từng cá nhân thì tốt nhất là nên quên hẳn đi.

Lĩnh vực duy nhất còn có sự luân chuyển, đảo lộn từ trên xuống dưới và ngược lại, đó là việc sản xuất phim truyền hình. Một lĩnh vực mà chất lượng từ nhiều năm nay không hề tiến bộ, nhưng số lượng ngày càng tăng. Trong lĩnh vực này đúng là luôn có những khuôn mặt trẻ, lạ (nhưng hoàn toàn không có nghĩa đó là những tên tuối mới, bởi vì những khuôn mặt đó, cũng như các cốt truyện đều đã được chuẩn hóa từ lâu).

Về phần những lĩnh vực đời sống khác còn lại, xin hãy đọc chương trình biểu diễn của bất cứ buổi hòa nhạc nào nhân dịp các ngày lễ, hay là thậm chí ngay cả danh sách ca sỹ biểu diễn trong đám cưới ồn ào gần đây của một vị quan toà nổi tiếng ở Moskva. Trong danh sách này có cả Kobzon (sinh 1937) lẫn Baskov (sinh 1976). Họ đều rất quen thuộc và có vẻ cổ kính như nhau, mặc dù giữa họ là khoảng cách gần hai thế hệ.

Nữ ca sỹ chính của nước Nga hiện vẫn là Alla Pugacheva (sinh 1949), còn người đối lập chính về phong cách với bà vẫn là Zemfira (sinh 1976), mặc dù đã từ lâu cả hai không có bất cứ tiết mục mới nào và vị thế của họ trong làng ca nhạc thực tế cũng đã ngang nhau.

Người ta tìm mọi cách thuyết phục chúng ta, rằng không có phương án con đường nào khác cho nước Nga hiện nay, không có lựa chọn, rằng bảo đảm duy nhất cho sự tiếp tục tồn tại của quốc gia Nga, đúng hơn là sự dường như tồn tại của nó là vị thủ lĩnh 65 tuổi, được một ekip những người đồng niên với ông phò tá,

Ngay ở Liên Xô thời Brezniev, ít nhiều cũng từng có cơ chế sự cho thăng tiến nghề nghiệp, chẳng hạn đó là Komsomol (Đoàn Thanh niên Cộng sản), ngoài ra cũng có điều kiện cho mọi người phát triển những hướng kinh doanh sản xuất mới, cho truyền hình thế hệ mới. Ngày nay dành cho các bạn trẻ chỉ còn lại một khả năng duy nhất, đó là vờ vịt làm việc ở các văn phòng hoặc bước ra đường biểu thị sự phản đối. Điều này chính là nguồn gốc phát sinh một hiện tượng thời thượng quái đản, những câu lạc bộ trên mạng xã hội của những người muốn tự sát.

Những người trẻ tuổi và nhiều triển vọng nhất hiện nay là thế hệ ở độ tuổi trên dưới 50. Đề tài tranh luận thường trực và bức thiết nhất của họ là Liên Bang Xô Viết, một nhà nước đã không tồn tại 25 năm.

Xin đừng bới móc tìm ra sự không tôn kính tuổi già và coi thường những người về hưu trong bài viết này. “Tôi tôn trọng tuổi già nhưng không phải ở dạng bị luộc hoặc rán chín “ Portos lừng danh (nhân vật trong các tiểu thuyết của Alexander Duma) đã nói.

Tôi cũng tôn trong tuổi già, nhưng không phải với tư cách một khuôn mẫu chuẩn mực về tư tưởng và đạo đức. Cả người trẻ lẫn người già đều cần phải biết chỗ đứng đích thực của mình trong xã hội. Người già ở nước Nga cần được kính nhường, nhưng quyết định số phận đất nước là quyền, xin phép phát biểu một cách thận trọng, không phải riêng chỉ của họ.

“Nước Nga trẻ” là tên gọi tiểu thuyết của Yuri German về những cải cách thời Piotr Đại Đế, còn quyến tiểu thuyết lý tưởng về thời hiện tại có lẽ nên có tên là “Nước Nga già cỗi”, một quyển tiểu thuyết về tuổi già nghèo đói, bị khinh rẻ, đầy oán giận. Một tuổi già thực sự không có bất cứ sự lựa chọn nào khác, ngoài một lựa chọn mà tôi không muốn nghĩ đến. Hay là ngược lai, đã muốn nghĩ đến rồi?
***********************
PS. Để kết thúc câu chuyện không mấy dễ chịu này đối với những người có thiện cảm với nước Nga, tôi xin phép dẫn thêm một vài thông tin dự báo được công bố cách đây ít hôm của Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh ở London (CEBR) cho năm 2032.

Theo tính toán của CEBR, vào năm 2032 mười nền kinh tế hàng đầu của thế giới dự kiến xếp hạng theo thứ tự sau: 1) Trung Quốc; 2) Mỹ; 3) Ấn Độ; 4) Nhật Bản; 5) Đức; 6) Brasil; 7) Anh; Hàn Quốc; 9) Pháp; 10) Indonesia.

Trong dự báo này nền kinh tế Nga tụt hạng từ thứ 11 hiện nay xuống vị trí thứ 17. Như vậy, so với các nước trong BRICS (những nền kinh tế mới nổi hàng đầu) Nga là nước duy nhất tụt hạng và tụt hạng đáng kể.

Theo giới chuyên môn kinh tế và xã hội học Nga, lý do chủ yếu và trực tiếp của sự suy thoái này là trong cơ cấu sử dụng năng lượng toàn cầu vai trò của dầu khí ngày càng giảm. Còn giá dầu thô sẽ giảm dần xuống $30/thùng vào năm 2032.

Theo giới chuyên môn kinh tế và xã hội học Nga, nguyên nhân sâu xa của sự suy thoái này là việc thể chế và tình trạng xã hội nước Nga hiện nay và trong tương lại gần không thuận lợi cho việc đa dạng hóa nền kinh tế Nga. Giải pháp tối cần thiết để giảm sự phụ thuộc của nước Nga vào việc khai thác và xuất khẩu dầu khí.

Старая Россия

Сегодняшняя Россия зависла вне времени, не развивается и не умирает, попав в пространство между жизнью и смертью

PROFILE.RU

Nguồn: NGƯỜI VIỆT HÔM NAY

Đọc “Bắt đầu và kết thúc” của Trần Quỳnh Nga


FB Trinh Thu Tuyet

Rất lâu không đọc báo Văn nghệ, ngẫu nhiên thấy một truyện ngắn được share trọn vẹn trên một trang Fb quen nên tò mò mà đọc, đó là “Bắt đầu và kết thúc” của Trần Quỳnh Nga! Đọc xong, bày tỏ vài dòng trên trang cá nhân, một học trò nói: “Nên để lời bình cho những gì đáng bình”; đồng nghiệp thì khuyên:” Hãy để nó tới thế nào thì đi như thế, vô tăm tích”!

Vậy nhưng vẫn thấy cần phải nói vài lời về một truyện ngắn không thể không suy nghĩ!

Từ điện gió Bạc Liêu, tới hai khu nhà máy điện than Sóc Trăng và Trà Vinh *

Ngô Thế Vinh

Bước phát triển bền vững nào thì cũng phải tính tới cái giá môi sinh / environmental costs phải trả đối với sức khoẻ của người dân và cả trên nguồn tài nguyên lâu dài của đất nước.

Gửi Nhóm Bạn Cửu Long

clip_image002

Hình 1: từ trái, KS Phạm Phan Long Hội Sinh Thái Việt, TS Lê Anh Tuấn Viện Nghiên cứu Biến Đổi Khí Hậu ĐH Cần Thơ, Ngô Thế Vinh trên đường dẫn ra biển đến khu Điện Gió / Windfarm Bạc Liêu. [photo by Lê Phát Quới]

clip_image004

Hình 2: Cửu Long Chín Cửa Hai Dòng, nay chỉ còn Bảy Cửa: Sông Hậu ba cửa nay còn hai: (1) cửa Trần Đề, (2) cửa Định An, (cửa Ba Thắc/ Bassac đã bị lấp). Sông Tiền sáu cửa nay còn năm: (3) cửa Cung Hầu, (4) cửa Cổ Chiên, (5) cửa Hàm Luông, (cửa Ba Lai đã bị đắp đập làm cống từ năm 2000), (6) cửa Đại, (7) cửa Tiểu. [nguồn: CLCD BĐDS p.360]. Tỉnh Bạc Liêu với Khu Điện Gió, Sóc Trăng với 3 nhà máy Điện Than Long Phú 4.400 MWTrà Vinh với 4 nhà máy Điện Than Duyên hải 4,260 MW trong tổng số 14 nhà máy Điện Than trên khắp 12 tỉnh ĐBSCL. [nguồn: Dragon/ CTU, với phần ghi chú của Ngô Thế Vinh]

Hãy rèn em thành vũ khí – Thơ Pablo Neruda

Vũ Thị Thanh Mai

clip_image002

Pablo Neruda [1904-1973] tên thật là Netftalí Recardo Reyes Basoalto, sinh ra vào mùa hạ năm 1904 tại một thị trấn nhỏ miền quê Chile trong một gia đình nghèo khó. Cuộc đời của cậu bé Recardo tưởng chừng phải xa lánh bút mực vì cha làm công nhân hỏa xa và mẹ làm giáo viên chết sớm vì lao phổi một tháng sau khi cậu chào đời. “Tuổi ấu thơ của tôi là những đôi dép ướt, là thế giới của gió và lá rừng, của những thân cây gẫy phủ dây leo”, như Neruda sẽ kể lại về sau, khi nhận giải Nobel Văn Chương 1971.

Là một cậu bé cô đơn với tính tình nhút nhát, nhưng ham mê đọc sách, năm mười tuổi Recardo bắt đầu tập làm thơ. Năm lên mười ba, bài thơ đầu tay của Recardo được đăng tải trên nhật trình "La Mañana". Sau đó, anh cộng tác với báo văn học "Selva Austral" dưới bút danh Pablo Neruda, có lẽ để tránh sự chống đối của người cha đã không bao giờ chấp nhận việc anh theo đuổi con đường văn chương. Crepusculario [Hoàng hôn], thi tập đầu tiên của Neruda xuất bản năm 1923, phản ảnh sự huyền ảo và thanh nhã của trường phái tượng trưng. Đến thi tập thứ nhì năm 1924, Twenty Love Poems and a Song of Despair [Hai mươi bài thơ tình yêu và một bài hát tuyệt vọng], Neruda lập tức từ một nhà thơ chưa được biết đến trở thành một tài thơ vang danh thế giới. Về sau, thi tập này trở thành một trong những thi tập của Neruda được ưa chuộng nhất và được dịch sang nhiều ngôn ngữ nhất, bán được trên một triệu quyển vào đầu thập niên 60.

“Hai mươi bài thơ tình yêu và một bài hát tuyệt vọng” đã gây chấn động vì sự ham muốn thân xác mang phong cách mãnh liệt, khác hẳn với truyền thống lãng mạn đương thời: "Anh đã đi đánh dấu bản đồ của thân thể em/ với những dấu thập lửa. / Miệng anh đi ngang qua: một con nhện, cố gắng ẩn trốn. / Trong em, đằng sau em, nhút nhát, thúc đẩy bởi cơn khát. " Với hình ảnh nối tiếp hình ảnh đập mắt, Neruda vẽ hải đồ những chuyển động đại dương của niềm đam mê, liên tục triệu tập hình tượng biển và thời tiết: "Trên mọi hướng anh nhìn thấy vòng eo sương mù của em, / và sự im lặng của em dồn vào thế cùng những giờ anh đau đớn; / nụ hôn của anh cắm neo, và sự ham muốn ướt át của anh làm tổ / trong em với cánh tay em bằng đá trong suốt." Sự khác biệt này đã gây chú ý, nhưng chính giá trị kỹ thuật và xúc cảm mật thiết đã khiến thi tập được yêu chuộng dài lâu. Thi tập bắt đầu bằng cường độ mô tả cảm xúc khoái lạc mạnh mẽ rồi chuyển dần sang uể oải, rồi xa cách trong những bài sau. Đến bài thơ cuối cùng, "Một bài hát tuyệt vọng", xoáy trên nỗi trầm cảm vô vọng đắng gắt.

"Thân thể của người đàn bà" là bài thơ thứ Nhất trong "Hai mươi bài thơ tình yêu" và "Ánh sáng khuất sau đường chân trời" là bài thứ 16.

Một nén nhang tưởng nhớ nhà nghiên cứu văn học Trần Văn Nam

Trần V NamVăn Việt vừa nhận được tin buồn đột ngột từ Hoa Kỳ: Nhà nghiên cứu văn học-nhà thơ Trần Văn Nam đã qua đời ngày 10/1/2018 tại California, hưởng thọ 79 tuổi.

Tác giả Trần Văn Nam mới tham gia văn đàn Văn Việt từ tháng 9/2018, và mới cách đây ít ngày, ông đã sốt sắng hưởng ứng lời mời gửi bài cho Số Xuân Mậu Tuất.

Văn Việt xin thành kính phân ưu cùng gia đình tác giả Trần Văn Nam và cầu chúc hương hồn ông siêu thăng. Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc bài viết và tấm chân dung mới nhất mà ông gửi cho Văn Việt.

Seminar: Mỹ học và “phê phán năng lực phán đoán”


Đơn vị tổ chức: Nhà xuất bản Tri Thức

Chủ trì: GS. TS. Nguyễn Trọng Chuẩn (nguyên Viện trưởng Viện Triết học)

Đơn vị phối hợp: HopeLab

Điều tiết và dẫn chương trình: Trần Đăng Dương

Thời gian: 13h45 – 16h30, thứ 6, ngày 19/01/2018

Địa điểm: Hội trường tầng 3 – Toà nhà VUSTA 53 Nguyễn Du, Hà Nội

Văn Hải ngoại sau 1975 (kỳ 4)


Nguyễn Xuân Hoàng

Tự truyện một người vô tích sự


Trong đời sống, mất mát nhiều hơn là thu nhận. Cây lúa sẽ không trổ bông, nếu trước đó nó không chết đi. Hãy sinh động một cách không mệt mỏi, nhìn về tương lai và nuôi dưỡng bằng những nguồn dự trữ sống chất chứa từ trí nhớ và sự lãng quên. It is more important in life to lose than to acquire. The grain will not sprout unless first it dies. One must remain untiringly alive, looking into the future and feeding on the living reserves which memory and oblivion together accumulate. - BORIS PASTERNAK “An Essay in Autobiography”*

Lan man Nguyễn Trọng Tạo


FB Ngô Minh Khôi

TẠO ĐI, TẠO HÁT, TẠO THƠ, TẠO EM, TẠO UỐNG TẠO SAY VÀ NAY... TẠO NẰM!

Đã qua 2 đêm một ngày nhà thơ- nhạc sĩ- họa sĩ Nguyễn Trọng Tạo, bạn thân của NM bị tai biến ở Diễn Hoa, cấp cứu ở BV Đa Khoa Nghệ An ( gọi là BV Ba Lan, Vinh). Tình hình đã bớt hiểm nguy, nhưng theo nhà thơ Tùng Bách thì Tạo lúc mê lúc tỉnh, miệng nói mà không nghe được gì, lúc tỉnh thì nhận ta bạn bè đến thăm... Thấy Tạo nằm mà thương quá! Con người ta sao mong manh vậy!? Cầu mong Tạo phục hồi nhanh để lại đi, lại uống, lại hát, lại em...

Sau đây mời bạn đọc FB đọc bài viết của NM về Nguyễn Trong Tạo in trong tuyển NGÔ MINH TÁC PHẨM ( tập 2) để hiểu thêm về Nguyễn Trọng Tạo. Bài dài, nhưng hay, bạn FB chịu khó đọc nhé :

Văn học miền Nam 54-75 (466): Ngô Thế Vinh (10)


VÒNG ĐAI XANH (KỲ 4)

CHƯƠNG CHÍN

     -  Đây là đêm cuối cùng tôi ở Việt Nam.

     -  Ông chấm dứt nhiệm vụ ở đây rồi sao? Người Thượng và cao nguyên đang cần sao ông lại bỏ đi?

     -  Không phải, sau hơn một năm tôi trở lại làm việc tại Mỹ.

     -  Hy vọng gặp lại ông.

     -  Ồ không, tôi muốn trả lại cho dân tộc Việt Nam một xứ sở hòa bình.

Tái bản tiểu thuyết “Vòng Đai Xanh” của Ngô Thế Vinh

NXB Văn Học trân trọng giới thiệu tác phẩm tiểu thuyết Vòng Đai Xanh của nhà văn Ngô Thế Vinh, được tái bản và đã phát hành trên Amazon. Sách có thêm Phụ lục gồm nhiều bài viết, tư liệu, hình ảnh, điểm sách, dư luận, v.v… chung quanh tác phẩm va nhung van de lien quan, thu thập được từ trước đến nay. Giá bán $18.00. Xin truy cập vào nối kết sau:

https://www.amazon.com/dp/1981501894/ref=sr_1_3?ie=UTF8&qid=1515619535&sr=8-3&keywords=ngo+the+vinh

Van Hoc Press

Khai ngộ với thiên nhiên: Bashô và Octavio Paz (Awakening to the Nature)

Nhật Chiêu

Bây giờ, trong thời đại phê bình sinh thái (ecocritical age), đọc lại thơ Bashô, ta cảm thấy như đang thở hít trong một sinh quyển đầy mê diệu. Đó là thứ thơ ca đưa ta vào sâu thẳm thiên nhiên. Không chỉ là thiên nhiên. Đó còn là tâm linh sinh thái, nơi mọi thứ luôn luôn sáng tạo và chuyển hóa, nơi mọi sinh linh bước đi trong ánh sáng của bình đẳng và vô sai biệt, không có chủ nhân và sở hữu chủ, nơi mọi thứ phản chiếu nhau như những hạt châu. Là nhà thơ, Bashô cảm thấy mình có quyền kêu gọi mọi người trở thành “người bạn của bốn mùa” và “quay về với tạo hóa” để gặp gỡ cái mê diệu và sáng tạo cái mê diệu. Hướng theo con đường thơ ca sâu thẳm của Bashô là tạo nên khả thể cho cuộc “tái mê diệu hiện thực của thế giới này” (a realistic reenchantment of the world) (1), nói theo Patrick H. Dust.

Lắng nghe Matsuo Bashô là lắng nghe những vần thơ của hơn ba thế kỷ trước. Đọc Bashô giữa thế kỷ hai mươi, Octavio Paz, nhà thơ lớn Mexico cho rằng kiệt tác Con đường sâu thẳm (Oku no hosomichi) là cuộc hành hương tâm linh (a spiritual pilgrimage) khi ông tham gia chuyển ngữ nó sang tiếng Tây Ban Nha(2). Bản thân Paz cũng từng sáng tác thơ theo thể renga và haiku (liên ca và haiku) trong phong cách hội tụ và hiện đại.

Cũng như Bashô, thơ Octavio Paz thể hiện hành trình tâm linh và cái đồng cảm vũ trụ rất gần tinh thần “thiên nhân tương cảm” của Đông phương mà ông rất quen thuộc. “Tương cảm và tương ứng chỉ là cách gọi cho nhịp điệu vũ trụ”, Paz đã nói như thế (3). Sự tương cảm đó có thể xem là mặc khải thơ ca (Poetic revelation) một thứ mặc khải không cần tới một quyền lực siêu hình nào, “đó là mặc khải về chính mình mà con người tạo ra cho mình” (4). Đó là mặc khải với thiên nhiên. Vì hiền minh thơ ca cũng là hiền minh thiên nhiên (natural wisdom).

Lí luận văn học Nga hậu xô viết (4)

Lã Nguyên


Chương II

TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC VÀ LÍ LUẬN VĂN HỌC

CỦA M.M. BAKHTIN

I. M.M. Bakhtin – nhà triết học

Có 2 nội dung chính được triển khai trong phần này này. Thứ nhất: Khảo sát quá trình tiếp nhận Bakhtin trong ý thức xã hội và tư duy khoa học, chủ yếu là ở Liên Xô trước kia và nước Nga hiện nay. Thứ hai: Phân tích hệ hình tư duy của triết học Bakhtin.

1. Ba giai đoạn công bố di sản của M. Bakhtin. Quá trình tiếp nhận M. Bakhtin ở nước Nga có thể chia thành 3 thời kì ứng với 3 giai đoạn công bố, xuất bản trước tác của ông.

Giai đoạn thứ nhất kéo dài 45 năm, tính từ 1919 đến năm 1963. Gần như toàn bộ di sản đồ sộ của M. Bakhtin đã được hoàn thành ở giai đoạn này. Nhưng suốt 45 năm ấy, nhiều công trình quan trọng bậc nhất của ông vẫn đành phải nằm im dưới dạng bản thảo. Năm 1919, M. Bakhtin công bố tác phẩm đầu tay có nhan đề Nghệ thuật và trách nhiệm trên Ngày nghệ thuật một tờ almanach của vùng Nevel. Vào những năm 20, M. Bakhtin cho in một số công trình dưới những bút danh khác nhau, ví như: V.N. Volosinov - Freudisme. Tiểu luận phê bình (1927), V.N. Volosinov - Chủ nghĩa Mác và triết học ngôn ngữ: Những vấn đê cơ bản của phương pháp xã hội học trong khoa học về ngôn ngữ (1929), P.N. Medvedev - Phương pháp hình thức trong nghiên cứu văn học. Nhập môn phê bình thi pháp xã hội học (1928). Đầu năm 1929, cuốn Những vấn đề sáng tác của Dostoevski (dưới tên thật của tác giả) ra mắt công chúng. Nhưng trước đó, ngày 24 tháng 12 năm 1928, M. Bakhtin bị bắt và đến ngày 22 tháng 7 năm 1929 ông bị kết án “5 năm tù giam trong trại tập trung”. Nhờ A.M. Gorki và A.N. Tolstoi tìm mọi cách xin ân xá, M.Bakhtin thoát khỏi án tù, nhưng ông vẫn bị đầy biệt xứ đến Kustanai, một thành phố hẻo lánh ở miền Bắc Kazastan. Ông sống ở đây gần 7 năm, làm kế toán tài chính cho liên đoàn cung tiêu huyện. Mãn hạn đi đầy, M. Bakhtin vẫn bị cấm cư trú ở những thành phố lớn của Liên Xô. Năm 1936, M. Bakhtin được dạy học ở Saransk, nhưng chẳng bao lâu, ông lại buộc phải rời Saransk đến sống ở Kimri và những vùng lân cận. Tại đây, vì bệnh nặng, ông phải tháo khớp chân (1938). Năm 1945, ông được trở về Saransk. Năm 1967, Bakhtin được minh oan và năm 1969, ông trở về Moskva. Suốt 40 năm, M. Bakhtin sống như một người vô danh. Không mấy ai còn nhớ tới tên tuổi của ông, thậm chí không ít người nghĩ rằng ông đã chết. Lúc bị bắt đi đầy, M. Bakhtin mới 33 tuổi. Tức là ở thời điểm tài năng đang nở rộ nhất, sức lực đang cường tráng, sung mãn nhất, M. Bakhtin đã bị tước quyền xuất bản những tác phẩm của mình. Thực ra, sau khi M. Bakhtin bị bắt, vẫn có 3 công trình của ông được công bố (cuốn Những vấn đề sáng tác của Dostoevski và hai bài báo về L. Tolstoi). Nhưng tất cả cũng chỉ có thế. Thời ấy, mọi nỗ lực của M. Bakhtin nhằm công bố trước tác của mình đều bị thất bại hoàn toàn. Nhiều công trình xuất sắc của ông đã phải chờ đợi vài ba chục năm, thậm chí hơn nửa thế kỉ mới có thể ra mắt bạn đọc. Sáng tác của François Rabelais và nền văn hoá dân gianTrung cổ và Phục hưng (1946), hoặc Bàn về triết học hành vi (cuối 1923 - đầu 1924) là những trường hợp như thế. Đây không chỉ là bi kịch của cá nhân M. Bakhtin, mà còn là bi kịch của một nền văn hóa.

Các nhà thơ Pháp cuối thế kỷ XX

ĐÔI LỜI THƯA BẠN ĐỌC

“Nếu thời đại này dường như không thuận lợi cho việc nổi lên “những gương mặt lớn” như những gương mặt đã từng trong suốt một thế kỷ đảm bảo cho tiếng tăm của thơ Pháp đối với đại chúng, thơ Pháp cũng vẫn có được một kỷ nguyên đẹp với sự dồi dào phong phú, với một chất lượng tổng thể hiếm có, và sự sống chung – rút cuộc là lịch sự, nếu không nói là thân ái – giữa những “khuynh hướng” khác nhau đến mức ta có thể tìm thấy trong đó sự tiếp tục ở bè trầm của truyền thống cũ xưa mà vẫn sống động, cùng lúc với những tiếng sáo, tiếng kèn và chũm chọe – không nói đến những bản độc tấu nhạc cụ gõ theo “chủ nghĩa tối thiểu” – của mọi thứ cách tân từng chen chúc, tranh chấp, thay thế nhau suốt năm sáu chục năm nay để rồi rút cuộc hòa giải với nhau.

Trong giấc mơ tôi (kỳ 3)

Nguyễn Tuyết Lộc

*THỜI CỦA BIẾN CỐ

Ai cũng biết từ năm 1954 đến 1960 dưới chính quyền Ngô Đình Diệm, Huế nói riêng cũng như cả miền Nam nói chung tưởng chừng như hưởng một nền hòa bình yên ả. Và ai cũng phải công nhận ông Diệm thành công rõ rệt trong những năm đầu. Để được như thế, thật ra ông không có một ngày được ngủ yên. Ông quyết lật đổ vua Bảo Đại – nói cách khác với sự góp ý và OK của người Mỹ, gạt bỏ mọi thành phần chống đối, trấn áp các phe đối lập, từ nhóm Bình Xuyên, Cao Đài, Hòa Hảo cho đến các đảng Đại Việt, Quốc Dân đảng, xây dựng một bộ máy chính quyền có tổ chức chặt chẽ, lại có thêm ông em là Ngô Đình Nhu làm cố vấn, lập đảng Cần Lao để phục vụ chế độ. Nhiều trường đại học khác được thành lập ở các thành phố lớn, dân chúng nhìn chung đã tạm yên ổn làm ăn. Nhưng càng về sau, chính sách của ông ngày càng áp bức, không tin dùng ngay cả những người có công đưa ông về nước, chỗ nào cũng có mật vụ, nạn tham nhũng làm lũng đoạn cả guồng máy nhà nước dân sự cũng như quân sự. Nhất là chính sách kỳ thị tôn giáo rõ rệt. Ngày lễ Noel trường học được nghỉ, trong lúc ngày lễ Phật Đản bị huỷ bỏ trong học đường cũng như trong chính quyền và quân đội… Tôi nghe người ta nói mỗi người – ngay cả những bậc thông minh, kỳ tài – đều có một “điểm mù”. Có khi đây chính là “điểm mù” của toàn bộ thành viên họ Ngô Đình chăng?

Sự chống đối chính quyền gia đình trị họ Ngô cứ âm ỉ, ngày càng mạnh mẽ và căng thẳng hơn. Đặc biệt trong giai đoạn này là vụ tự tử của nhà cách mạng, nhà văn nổi tiếng Nhất Linh - Nguyễn Tường Tam để lại nhiều bùi ngùi thương tiếc. Những thiện cảm mà quần chúng dành cho ông Ngô Đình Diệm trong những năm đầu ông vể nước giờ đã tiêu tan. Không thể chịu nổi tình trạng này, một số đơn vị quân đội đã nổi dậy chống đối.

Lớp học: cộng đồng đấu tố?[i]


FB Hà Thủy Nguyên

Hồi đi học, bọn học trò nhiều đời vẫn truyền nhau câu “Đi học là đi tu, ngồi học là ngồi tù”, kể ra cũng không sai. Nhưng đến thời con gái của tôi đi học cấp 2, thì tôi bắt đầu thấy câu này sai sai, có vẻ vẫn còn quá nhẹ… Con gái tôi không còn được mặc những chiếc váy đẹp như thời cấp 1 mà thay vào đó là bộ đồng phục vải thô xấu xí, nó cũng không dám dùng đồ trang sức đẹp (dù là loại rẻ tiền) vì sợ bị bạn bè tẩy chay, nó uất ức cũng không dám bộc lộ vì hàng chục cái mồm chỉ đợi để đấu tố nó tập thể. So với trường cấp 1, trường cấp 2 của con bé không khác nào cái thời đấu tố mà tôi chỉ được nghe kể lại qua phim ảnh, văn chương.

Văn học miền Nam 54-75 (465): Ngô Thế Vinh (9)


VÒNG ĐAI XANH (KỲ 3)

CHƯƠNG SÁU

Hai giai đoạn của cuộc hành quân giải thoát trại Dakto thành công mĩ mãn. Có lẽ tướng Trị là người hân hoan nhất mặc dù viên trung tá Tacelosky cố tình ngăn cản. Ông không ngờ một nhà báo như Davis có thể giúp ông hữu hiệu như vậy. Davis là bạn thân của tướng Hunting và chính anh đã can thiệp kịp thời để ông tướng Mỹ này hiểu rõ tánh cách chánh trị rắc rối do Tacelosky gây ra. Hơn sáu trăm dân làng được di tản an toàn về trung tâm định cư. Tacelosky bỏ về Sài Gòn vì giận dỗi. Việc cứu trợ, tướng Trị phải nhờ tới ông bà Mục sư Denman, cũng lại qua sự trung gian của Davis. Có nhiều dấu hiệu căng thẳng về mối bất đồng giữa các nhà quân sự Mỹ thuần túy và giới cố vấn dân sự.

Minh triết và Tư duy Minh triết


(Nhân kỷ niệm 10 năm ra đời Trung tâm Minh Triết, Hà Nội)

Phạm Khiêm Ích

Minh triết có ich gì cho hôm nay? Để trả lời câu hỏi lớn này, không thể không làm rõ đặc điểm của Minh triết và tư duy Minh triết. Tại Hội thảo khoa học Kỷ niệm mười năm thành lập Trung tâm Nghiên cứu Văn hóa Minh triết ngày 30-12-2017,tôi đã trình bày đôi điều suy nghĩ về Minh triết và tư duy Minh triết:

TUYÊN BỐ VỀ BẢN ÁN TỬ HÌNH TẠI ĐẮK NÔNG Của các cá nhân và tổ chức quan tâm đến vận mệnh của đất nước (đợt 2)


Sự việc và Nhận định

Vào hai ngày 2/1/2018 và 3/1/2018 Tòa án Nhân dân tỉnh Đắk Nông đã xét xử sơ thẩm vụ án nổ súng làm 16 người thương vong xảy ra vào ngày 23/10/2016 tại tiểu khu 1535, xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông liên quan đến Công ty TNHH Thương mại và Đầu tư Long Sơn.

Được biết sự kiện bi thảm xảy ra do nông dân mất đất vô cùng bức xúc trước hành động của đoàn cưỡng chế đất do Công ty Long Sơn phái đến san ủi khu đất đang tranh chấp nhiều năm trước đó.

Đây là vụ án mà dư luận đặc biệt quan tâm kể từ sau vụ án Đoàn Văn Vươn nổi tiếng vào năm 2012. Rất nhiều người dân địa phương đã sát cánh cùng thân nhân các bị cáo đến theo dõi phiên tòa sơ thẩm diễn ra trong hai ngày đầu năm mới.

Đọc tiểu thuyết “Tiếng cồng”của Nam Dao


FB Thái Văn Đào

TIẾNG CỒNG CỦA NAM DAO-NGUYỄN MẠNH HÙNG VÀ CÁCH XỬ LÝ HUYỀN THOẠI

Đặng Văn Sinh

"Tiếng cồng"* là cuốn tiểu thuyết được viết theo kiểu một bố cục phân mảnh với một cấu trúc phức tạp theo khuynh hướng sáng tác tiểu thuyết Hậu hiện đại. Tuy nhiên trình tự khai triển, phong cách diễn đạt và phong cách văn chương lại mang đậm dấu ấn của thể loại tiểu thuyết cổ điển. Xen giữa những sự kiện tiểu thuyết, mối quan hệ các nhân vật, Nam Dao thường có những đoạn bình luận trữ tình ngoại đề. Và ở phần này, dù là trực tiếp hay gián tiếp, người đọc nhận ra quan điểm thẩm mỹ của tác giả trong cách nhìn nhận, đánh giả về lịch sử, văn hóa dân tộc Việt.

Về bố cục, cuốn sách được chia làm 7 phần, trong đó 5 phần chính được đánh số thứ tự, ngoài ra, còn có phần mở đầu được gọi là "Ngôn ngoại" như là lời mở và phần cuối gọi là "Huyền thoại - Bất tận ngôn" cũng là kết thúc tác phẩm. 5 phần chính là:
1 - Cây đa nơi đình miếu
2 - Bến Lú
3 - Mộ Bướm
4 - Lũng Mây
5 - Đỉnh dốc Hàm Rồng

Phần mở "Ngôn ngoại" nói về quá trình tìm tư liệu và ý tưởng bố cục cuốn sách, Nam Dao thường nhắc đến một nhà văn nổi tiếng người Mễ có tính cách lạ đời. Ông ta nói năng cục cằn, rất ít lời, và sau mỗi lần đọc qua bản thảo đều yêu cầu tác giả viết lại. Nhà văn nhẫn nhục cày trên từng trang giấy với một sự kiên nhẫn vượt khỏi sức tưởng tượng, và đến lần cuối cùng thì được Carlos gật đầu...

Phần cuối "Sau huyền thoại - Bất tận ngôn" được xem như một vĩ thanh sau khi tác giả đã cho các nhân vật của mình "nhảy múa" trên sân khấu trường đời cùng với những nhận xét đánh giá như một sự chiêm nghiệm. Phần này cũng là sự kết thúc gần như có hậu của một số nhân vật chính như Hà, Sa, Freddy và vợ chồng Marthe. Bằng những dòng ngắn gọn nhưng đầy biểu cảm, tác giả nêu ra những triết lý về huyền thoại Rồng - Tiên qua câu chuyện Lạc Long Quân và Âu Cơ được đặt trong bối cảnh chiến tranh và hòa bình của tộc người việt qua những thăng trầm lịch sử.

Ở phần chính, các tiêu đề của mỗi chương tuy có vẻ phân mảnh như một chủ đề riêng biệt, nhưng diễn biến cốt truyện lại luôn có sự móc xích với nhau trong một tổng thể, đồng thời lại mang âm hưởng huyền thoại.
Câu chuyện được diễn ra trong một nhóm khách du lịch đến từ những miền văn hóa khác nhau, ngôn ngữ khác nhau cùng ở trong một khách sạn nhỏ vùng cao Sa Pa dưới chân ngọn núi Fansipan. Chủ khách sạn là một bà già kém mắt và cô con gái tên Sa. Đó là một xã hội thu nhỏ với những mối quan hệ ngang dọc được nhìn nhận từ nhiều hệ quy chiếu về trình độ học vấn, khả năng nhân thức và tầm vóc văn hóa trong một khung cảnh nửa hư nửa thực bởi phong tục, tập quán và cả những ẩn ức tâm lý.

Mối quan hệ giữa các nhân vật không xuôi chiều mà khá đa dạng, nhiều biến thái dẫn đến không ít đột biến. Đó là Hà, một công dân Mỹ gốc Việt, nhà môi giới chứng khoán, có nhiều tiền nhưng về Việt Nam như một người ngoại quốc bởi anh ta chẳng còn gì gắn bó với quê hương ngoài những ký ức lờ mờ. Ở Mỹ, Hà có vợ có con nhưng lại mê cô con gái bà chủ khách sạn đến nỗi xuýt nữa bị Freddy cho một nhát dao. Freddy là nhà côn trùng học, có cha làm phi công lái máy bay do thám bị tên lửa Việt Nam bắn hạ thời kỳ chiến tranh hai miền Nam Bắc. Sa, con gái một họa sĩ tài năng luôn khao khát khung trời cho tự do sáng tác. Ông nhận lời mời của một nhân sĩ đấu tranh cho sự nghiệp dân chủ, đã vào Đà Lạt sinh sống. Sa là cô gái chưa chồng, biết tiếng Anh, khá lọc lõi vì đã tiếp xúc với nhiều khách du lịch và nhất là thừa hưởng được phẩm chất thông tuệ cứng cỏi của người cha. Cô mặc cảm thân phận nghèo hèn và luôn tìm cơ hội để thay đổi hoàn cảnh sống. Thế nhưng đây cũng là một thiếu nữ có tính cách phức tạp, thậm chí cực đoan, nhất là, khi cô giấu biệt những bức thư người cha gửi cho mẹ, đồng thời nói dối ông đã yêu thương người đàn bà khác khiến bà mẹ đau khổ, dần dần mắt bị lòa. Một mặt, Sa thương xót những con bướm bị ướp xác, bắt Freddy chôn bộ sưu tập hồ điệp mà phải khó khăn lắm mới có được, nhưng mặt khác, cô lại yêu cầu anh chàng người Mỹ phải thỏa thuận với mình một hợp đồng miệng làm vợ chồng trên danh nghĩa để có cơ hội xuất ngoại.

Ở Sa người đọc có thể tìm thấy cả sự lương thiện lẫn sự nhẫn tâm, sự trinh trắng của cô gái tuổi dậy thì những cũng lại lả lơi, buông thả như loại gái bán hoa câu khách. Sa là sản phẩm của một nền văn hóa mà ở đó sự tha hóa đang gậm nhấm dần những giá trị bền vững tác giả muốn cảnh báo chăng?

Nhân vật Marthe lại phát sinh một vấn đề khác có liên quan đến lịch sử dân tộc Việt nhất là lịch sử cuộc chiến tranh Đông Dương (1946 - 1954) qua câu chuyện cô công chúa người H'Mong Vàng Sao. Marthe chính là cô công chúa con gái vua Mèo đã bị chết trong trận máy bay quân đội Pháp ném bom vào bản. Vàng Sao được viên công sứ đưa về Pháp, nhận là con và cho vào học trường Cao đẳng âm nhạc. Lúc này, Vàng Sao về Việt Nam với tư cách là nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc cùng với chồng là bác sĩ André. Tại Sa Pa, Marthe đã cứu sống một phụ nữ người H'Mong bị sưng bộng răng rồi vào thăm thủ phủ cũ của vua Mèo, tham gia các lễ hội của người H'Mong, cuối cùng chị đã hoàn nguyên bản sắc dân tộc qua ký ức của những người gìa và ký ức truyền kiếp của chính mình.

Freddy cũng là một nhân vật tham gia vào cộng đồng du khách với tư cách là nhà côn trùng học. Anh ta lang thang suốt các ngả đường chân dãy Hoàng Liên Sơn tìm bắt các loại bướm bản địa rồi ướp xác bằng hóa chất mà vẫn giữ nguyên màu sắc óng ánh để chúng trở thành bất tử. Vì bản hợp đồng với Sa mà Freddy phải hủy bộ sưu tập. Freddyluôn bị ám ảnh về cái chết của bố mình bởi bức thư nào cha anh cũng nói ông chỉ lái máy bay trinh sát tầm cao vượt quá khả năng của tên lửa quân đội Bắc Việt. Cha Freddy được liệt vào danh sách mất tích, và chuyến đi của anh ta lần này chính là để tìm tung tích ông. Đó cũng là nguyên nhân mà Freddy phải vào bản người H'Mong thuê một ông thầy cúng làm phép gọi hồn cha.

Những trang miêu tả một mình Freddy xuống vực thẳm Lũng Mây tìm hài cốt cha có vẻ như không chỉ là hiện thực mang màu sắc tâm linh mà nó đã vươn dến cấp độ huyền thoại khó có thể nhận thức bằng luận lý. Thung lũng mờ sương đầy khỉ và những đống hài cốt lẫn lộn giữa người và khỉ làm người đọc sởn gai ốc liên tưởng đến một thứ địa ngục ngay trên trần thế. Rùng rợn hơn nữa là khi Freddy vấp ngã văng mất đèn pile, một mình dò dẫm trong thung lũng tử thần đầy những âm thanh ma quái được tạo ra bởi sự tự kỷ ám thị.
Vụ nhà côn trùng học mất tích làm ông thày bùa người H'Mong hoảng sợ trả lại $100 và thoái thác trách nhiệm bằng cách yếu cầu Sa và Hà im lặng. Đây cũng là một tình tiết rất tiểu thuyết của cuốn sách.

Mối quan hệ giữa Sa, Hà và Freddy qua hai bản hợp đồng tình yêu không được giải quyết ở phần chính truyện mà tác giả cố tình bắt người đọc phải chờ đến hồi kết "Sau huyền thoại - Bất tận ngôn" mới cởi bỏ những nút thắt như là một thủ pháp phục bút của người viết tiểu thuyết giàu kinh nghiệm.

"Tiếng cồng" là cuốn truyện cần được nhìn nhận ở nhiều tầng ý nghĩa. Nội hàm của cuốn sách qua các mối quan hệ phần nổi giữa các nhân vật trong những hoàn cảnh khá điển hình được khái quát hóa đã dẫn dắt người đọc từ nhận thức cảm tính đến nhận thức lý tính. Vì thế, có thể xem, phần cốt lõi của câu chuyện chính là vấn đề văn hóa, mà trong đó, huyền thoại được tác giả sử dụng như một phương tiện để biểu đạt tư tưởng thẩm mỹ. Tuy nhiên huyền thoại Nam Dao vận dụng không liên tục và đồng bộ. Đó là thứ huyền thoại phân mảnh được dẫn dụ qua các giá trị văn hóa phi vật thể của cộng đồng tộc người H'Mong hay tiếng gọi truyền kiếp từ vô thức của huyền tích Lạc Long Quân và Âu cơ từ thuở hồng hoang lập nước...

Với vốn tư liệu phong phú từ công đoạn điền dã, khai thác nhiều phong tục tập quán của tộc người H'Mong cũng như tìm hiểu được những khúc quanh của lịch sử dân tộc qua hai cuộc chiến tranh, Nam Dao đã thành công khi ông tái hiện một mảng hiện thực xã hội Việt Nam bằng lối văn sinh động nhưng cũng đầy ẩn dụ về đất nước, dân tộc và những giá trị sống đang dần dần bị tha hóa.
Đúng như tiêu đề "Sau huyền thoại - Bất tận ngôn" như một vĩ thanh, tác giả đã ngầm chỉ ra, vì thế, khi đọc "Tiếng cồng" chúng ta nên đọc cả "phần chìm" của cuốn sách. Bởi chính nó chứ không phải phần cốt truyện trực tiếp, mới làm nên tư tưởng của cuốn sách này.

Chí Linh, 6.01.2018
Đ.V.S.

* TIẾNG CỒNG, tiểu thuyết của nhà văn Nam Dao, nhà xuất bản THI VĂN, Hoa Kỳ

Đã post trên vanviet.info, vandoanviet,blogspot.com và FB Văn Việt trong năm 2017

https://www.facebook.com/daothaivan/posts/1508672142573568Top of Form

TUYÊN BỐ VỀ BẢN ÁN TỬ HÌNH TẠI ĐẮK NÔNG của các cá nhân và tổ chức quan tâm đến vận mệnh của đất nước

Sự việc và Nhận định

Vào hai ngày 2/1/2018 và 3/1/2018 Tòa án Nhân dân tỉnh Đắk Nông đã xét xử sơ thẩm vụ án nổ súng làm 16 người thương vong xảy ra vào ngày 23/10/2016 tại tiểu khu 1535, xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông liên quan đến Công ty TNHH Thương mại và Đầu tư Long Sơn.

Được biết sự kiện bi thảm xảy ra do nông dân mất đất vô cùng bức xúc trước hành động của đoàn cưỡng chế đất do Công ty Long Sơn phái đến san ủi khu đất đang tranh chấp nhiều năm trước đó.

Đây là vụ án mà dư luận đặc biệt quan tâm kể từ sau vụ án Đoàn Văn Vươn nổi tiếng vào năm 2012. Rất nhiều người dân địa phương đã sát cánh cùng thân nhân các bị cáo đến theo dõi phiên tòa sơ thẩm diễn ra trong hai ngày đầu năm mới.

Phiên tòa đã kết thúc vội vã vào chiều ngày 3/1/2018 với kết quả gây phẫn nộ lớn trong công luận nói chung và người dân địa phương có quyền lợi liên quan đến vụ án nói riêng. Ông Đặng Văn Hiến, 47 tuổi, bị tuyên án tử hình, các nông dân khác tham gia vào vụ nổ súng đều bị tuyên án nặng từ 9 tháng đến 20 năm tù giam.

Khi được nói lời sau cùng, ông Ninh Viết Bình, 35 tuổi, người bị tuyên án 20 năm tù, đã nói trong nước mắt rằng “Nếu không có Công ty Long Sơn thì hôm nay các bị cáo đã không có mặt tại tòa và đã không gây ra tội lỗi.”

Nói cách khác, dư luận theo dõi vụ xử án đều cùng chung nhận định rằng hành động của các bị cáo, đặc biệt ông Đặng Văn Hiến, đều xuất phát từ tâm lý phẫn uất do bị dồn đến đường cùng, và việc sử dụng súng để chống trả là việc làm bất đắc dĩ trước hành vi trái pháp luật ngay trước đó của những người bị hại.

Tuyên bố

Trước sự kiện bi thảm nói trên và bản án nặng nề dành cho các nông dân mất đất, chúng tôi đồng lòng đưa ra tuyên bố như sau:

Thứ nhất, bản án sơ thẩm dành cho ông Đặng Văn Hiến là sự phỉ báng công lý, vì tội danh “giết người” hoàn toàn không phù hợp với diễn biến vụ án cũng như hành vi của các bị cáo, và hội đồng xét xử đã không xem xét thấu đáo, hợp tình hợp lý mọi tình tiết của vụ án, đặc biệt là hành động tự vệ trong trạng thái tinh thần bị kích động của các nông dân mất đất trước sự tấn công và cướp phá tài sản ngang ngược, bất chấp pháp luật của đoàn cưỡng chế đất do Công ty Long Sơn phái đến. Không ai cổ vũ giải pháp bạo lực để giải quyết mâu thuẫn, nhưng rõ ràng tòa án đã không phân tích đầy đủ nguyên nhân và điều kiện phạm tội của các bị cáo trước khi tuyên án.

Thứ hai, sau hành vi vượt quá phòng vệ chính đáng gây hậu quả nghiêm trọng, ông Đặng Văn Hiến đã ra đầu thú với mong ước hưởng sự khoan hồng của pháp luật, mà lẽ ra ông đương nhiên có quyền hưởng theo các quy định pháp lý hiện hành, bởi vì đầu thú là tình tiết giảm nhẹ hình phạt mà hội đồng xét xử nên cân nhắc khi lượng hình. Tuy nhiên giờ đây ông Hiến lại phải chịu hình phạt nặng nhất trong khung hình phạt.

Thứ ba, chính quyền tỉnh Đắk Nông và huyện Tuy Đức rõ ràng hoàn toàn tắc trách trong việc giải quyết dứt khoát tranh chấp đất kéo dài tại địa phương, khiến người dân không an cư lạc nghiệp; điều đó vừa thể hiện thái độ xem thường nguyện vọng chính đáng của nhân dân, vừa phần nào đó góp phần gây nên hậu quả nghiêm trọng đáng tiếc nói trên.

Thứ tư, luật pháp và các cơ quan thực thi pháp luật lẽ ra phải bảo vệ công dân, bảo vệ quyền lợi và tài sản hợp pháp của họ, thì nay lại mặc nhiên trở thành và được sử dụng như công cụ đắc lực cho các nhóm lợi ích cướp đất của dân một cách trắng trợn. Ai đã cho phép Công ty Long Sơn tự lập đoàn cưỡng chế đất với quyền sử dụng vũ khí và quyền tấn công dân địa phương, nói cách khác ai đã trao thẩm quyền thực thi pháp luật cho một công ty tư nhân như vậy? Câu hỏi này dứt khoát phải được làm rõ.

Thứ năm, nguồn gốc chính của sự kiện bi thảm tại tiểu khu 1535, xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông suy cho cùng là ở quan niệm và quy định pháp lý về chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai, bởi nó mặc nhiên trao cho các chính quyền địa phương một quyền lực nguy hiểm là tước đoạt đất của người dân để trao cho các nhóm lợi ích vốn thừa và sẵn sàng sử dụng tiền bạc trục lợi bằng cách hối mại quyền thế.

Thứ sáu, xã hội chắc chắn sẽ bất ổn và rối loạn khi người dân không còn đặt niềm tin vào pháp luật và các cơ quan thực thi pháp luật, bởi lúc đó họ sẽ tự ban phát công lý cho chính mình với hậu quả là xung đột xã hội sẽ gia tăng. Bản án tử hình nặng nề trong vụ án này hoàn toàn không giúp ngăn chặn tình trạng phản kháng của nông dân mất đất trong tương lai, mà ngược lại càng khiến người dân phẫn nộ vì công lý chẳng những không được thực thi, mà còn bị nhạo báng bởi những kẻ cầm cán cân công lý sai lệch.

Yêu cầu

Vì những lẽ nêu trên, chúng tôi yêu cầu Chủ tịch Nước và Tòa án Tối cao nước CHXHCN Việt Nam nghiêm túc xem xét lại vụ án và bản án này. Điều mà chúng tôi, trong tư cách là công dân Việt Nam và người gốc Việt, cần và đòi hỏi ở một nhà nước của dân, do dân và vì dân là: CÔNG LÝ.

Lập vào ngày 8 tháng 1 năm 2018

DANH SÁCH NHỮNG TỔ CHỨC VÀ CÁ NHÂN KÝ TÊN

ĐỢT 1

TỔ CHỨC:

1. Câu lạc bộ Lê Hiếu Đằng. Đại diện: Lê Thân, cựu tù nhân Côn Đảo

2. Ban Vận động Văn đoàn Độc lập. Đại diện: nhà văn Nguyên Ngọc

3. Diễn đàn Xã hội Dân sự. Đại diện: TS Nguyễn Quang A

4. Diễn đàn Bauxite Việt Nam. Đại diện: GS Phạm Xuân Yêm

5. Nhóm Văn Lang, Cộng hòa Séc. Đại diện: Nguyễn Cường

CÁ NHÂN:

1. Huỳnh Kim Báu, cựu Tổng thư ký Hội Trí thức Yêu Nước TPHCM, Chủ nhiệm danh dự CLB Lê Hiếu Đằng

2. Đào Công Tiến, cựu Hiệu trưởng trường Đại học Kinh tế TPHCM

3. Lê Thân, CLB Lê Hiếu Đằng, Nha Trang

4. Lê Công Định, luật gia, Sài Gòn

5. Võ Văn Thôn, cựu Giám đốc Sở Tư pháp TPHCM

6. Hoàng Hưng, nhà thơ, Sài Gòn

7. Hoàng Dũng, PGS TS, TPHCM

8. Huỳnh Sơn Phước, nhà báo, Hội An

9. Nguyên Ngọc, nhà văn, Hội An

10. Nguyễn Quang A, TS, Hà Nội

11. Phan Tấn Hải, nhà văn-nhà báo, Hoa Kỳ

12. Võ Văn Tạo, nhà báo, Nha Trang

13. Nguyễn Thị Mười, hưu trí, Sài Gòn

14. Bùi Hiền, nhà thơ, Canada

15. Lưu Thủy Hương, nhà văn, CHLB Đức

16. Nguyễn Thị Khánh Trâm, hưu trí, TPHCM

17. Trần Minh Thảo, viết văn, Bảo Lộc, Lâm Đồng

18. Vũ Thư Hiên, nhà văn, Cộng hòa Pháp

19. Ngô Kim Hoa, nhà báo tự do, thành viên CLB LHĐ, Sài Gòn

20. Lại Thị Ánh Hồng, thành viên CLB LHĐ, Sài Gòn

21. Nguyễn Thị Kim Chi, NSƯT, Sài Gòn

22. Thùy Linh, nhà văn, Hà Nội

23. Nguyễn Đăng Quang, nguyên cán bộ Bộ Công an, Hà Nội

24. Nguyễn Thanh Mai, nhân viên văn phòng, Cộng hòa Séc

25. Ý Nhi, nhà thơ, TPHCM

26. Bùi Minh Quốc, nhà báo, Đà Lạt

27. Lê Văn Sơn, nhà báo tự do, Nghệ An

28. Phạm Đình Trọng, nhà văn, Sài Gòn

29. Trần Tiến Đức, nhà báo độc lập, Hà Nội

30. Mạc Văn Trang, TS Tâm lý học, Hà Nội

31. Anthony Đặng Hữu Nam, Linh mục Giáo phận Vinh, Nghệ An

32. Nguyễn Thiện, tác giả chương trình “Dân ta biết sử ta”, TPHCM

33. Khổng Hy Thiêm, kỹ sư, Khánh Hòa

34. Hà Dương Tường, nhà giáo về hưu, Cộng hòa Pháp

35. Nguyễn Sĩ Thụy, giáo viên, TP Huế

36. Phạm Toàn, nhà giáo dục, Hà Nội

37. Hà Quang Vinh, hưu trí, TPHCM

38. Lê Hồng Hà, công nhân, Hoa Kỳ

39. Nguyễn Hoành, hưu trí, TPHCM

40. Vũ Quốc Ngữ, nhà báo tự do, Hà Nội

41. Nguyễn Nguyên Bình, nhà văn, Hà Nội

42. Đặng Bích Phượng, hưu trí, Hà Nội

43. Đoàn Hòa, Cộng hòa Séc

44. Đaminh Lê Thanh Trưởng, linh mục, Đồng Nai

45. Đặng Đăng Phước, giáo viên, Buôn Ma Thuột

46. Minh Đức Cao, thợ xây dựng, CHLB Đức

47. Thị Diên Nguyễn, thợ xây dựng, CHLB Đức

48. Nguyễn Minh Phát, công nhân, Canada

49. Nguyễn Trọng Bách, kỹ sư, Nam Định

50. Minh Huệ Bekker, kỹ sư hưu trí, CHLB Đức

51. Phạm Tư Thanh Thiện, nhà báo về hưu, Cộng hòa Pháp

52. Nguyễn Ngọc Giao, nhà giáo về hưu, Cộng hòa Pháp

53. Lê Thị Hồng Hạnh, hưu trí, Hà Nội

54. Nguyễn Thị Từ Huy, nghiên cứu sinh triết học chính trị, Cộng hòa Pháp

55. Nguyễn Khắc Mai, nhà nghiên cứu văn hóa, Hà Nội

56. Dương Đình Giao, nhà giáo đã nghỉ hưu, Hà Nội

57. Nguyễn Thu Giang, nguyên PGĐ Sở Tư pháp TPHCM

58. Nguyễn Trần Hải, cựu sĩ quan Hải quân QĐNDVN đã nghỉ hưu, Hải Phòng

59. Giáng Vân, nhà thơ, Hà Nội

60. Hoàng Xuân Sơn, hưu trí, làm thơ, Canada

61. Trần Vũ, nhà văn, Hoa Kỳ

62. Nguyễn Xuân Thiệp, làm thơ, Hoa Kỳ

63. Nguyễn Thị Bích Lưu, nhân viên y tế, TP Hồ Chí Minh

64. Tống Văn Công, nguyên TBT báo Lao động, hiện sống tại Hoa Kỳ

65. Mai Hiền, nguyên TBT báo Phụ nữ TPHCM, hiện sống tại Hoa Kỳ

66. Trần Bang, kỹ sư, cựu chiến binh chống Tàu, Sài Gòn

67. Kha Lương Ngãi, cựu Phó TBT báo Sài Gòn Giải phóng, TPHCM

68. Nguyễn Huệ Chi, GS Ngữ văn, Hà Nội

69.  Đặng Thị Hảo, TS Văn học, Hà Nội

70. Nguyễn Đình Nguyên, TS Y khoa, Australia

71. Phạm Xuân Yêm, GS, Cộng hòa Pháp

72. Phan Đắc Lữ, nhà thơ, Sài Gòn

73. Ngô Thị Thu Huyền, nhà tâm lý, Sài Gòn

74. Phan Thị Hoàng Oanh, TS Hoá học, TPHCM

75. Hồ Minh Tâm, nhà thơ, Hà Nội

76. Chân Phương, nhà thơ, Boston, Hoa Kỳ

77. Hoàng Ngọc Biên, nhà thơ-họa sĩ, Hoa Kỳ

78. Khánh Phương, nhà văn, nhà báo, Pennsylvania, Hoa Kỳ

79. Trần Nghi Hoàng, nhà văn, nhà báo, Pennsylvania, Hoa Kỳ

80. Trần Mộng Tú, nhà văn, Hoa Kỳ

81. Trần Thị Phượng, luật sư, Đà Nẵng

82. Mạc Việt Hồng, Warszawa, Ba Lan

83. Nguyễn Quốc An, kỹ sư xây dựng, TPHCM

84. Lý Trực Dũng, kiến trúc sư & hoạ sĩ, Hà Nội

85. Trần Hậu, Bishkek, Cộng hòa Kyrgyzstan

86. C. Nguyen, technicien ICP, Cộng hòa Pháp

87. Nguyễn Minh, Trung Tâm Bảo Trợ Trẻ Em Đường Phố Đà Nẵng

88. Hồ Bất Khuất, nhà báo, Hà Nội

89. Nghĩa Bùi, nhà báo, Mỹ

90. Đinh Văn Dũng, Ninh Bình

91. Trần Lương, hoạ sĩ, Hà Nội

92. Vũ Thanh Hương, hưu trí, Hà Nội

93. Hà Duy Phương, Sài Gòn

94. Trần Kỳ Trung, nhà văn, Hội An

95. Nam Dao Nguyễn Mạnh Hùng, nhà văn, GS TS Kinh tế học về hưu, Canada

96. Châu Minh Hùng, TS Ngữ văn, Đại học Quy Nhơn

97. Nguyễn Thị Khiêm Nhu, làm nghề tự do, Sài Gòn

98. Trần Ngọc Vương, GS TS, Đại học Quốc gia Hà Nội

99. Vũ Ngọc Tiến, viết văn viết báo, Hà Nội

100. Trịnh Đình Hoà, Hà Nội

101. Nguyễn Xuân Diện, TS, Hà Nội

102. Nguyễn Kế Ánh, Bình Định

103. Lê Văn Lợi, Hoa Kỳ

104. Trần Văn Toàn, Hà Nội

105. Nguyễn Quang Thạch, chủ nhiệm chương trình “Sách hóa Nông thôn”

106. Nguyễn Hồng Hưng, nhà điêu khắc, TPHCM

107. Đỗ Trung Quân, nhà thơ, Sài Gòn

108. Uyên Vũ, nhà báo, California, Hoa Kỳ

109. Phạm Xuân Nguyên, cựu Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội

110. Nguyễn Thị Bình, giảng viên đại học, hưu trí, Hà Nội

111. Phan Văn Song, cựu giáo viên, Sydney, Australia

112. Mạnh Kim, viết lách tự do, Sài Gòn

113. Trần Kim Lan, CHLB Đức

114. Nguyễn Kim Tuỳ, làm việc tự do, Đan Mạch

115. Phạm Thanh, nghề nghiệp: chờ nghỉ hưu, Sài Gòn

116. Nguyễn Phục Hưng, kỹ sư điện, TPHCM

117. Chu Anh Tuấn, Vũng Tàu

118. Dinh Hoang Thong, Hoa Kỳ

119. Nguyễn Hùng, kinh doanh, Hà Nội

120. Nguyễn Văn Tiếng, sinh viên mới ra trường, Bình Định

121. Huỳnh Công Huân, cựu kiếnnhà trúc sư, Sài Gòn

122. Thận Nhiên, nhà thơ, Hoa Kỳ

123. Nguyễn An, TPHCM

124. Nghiêm Hoa, nội trợ, Hà Nội

125. Phan Đắc Lữ, nhà thơ, Sài Gòn

126. Như Quỳnh de Prelle, nhà thơ, Bỉ

127. Nguyễn Trần Thanh Anh, bác sĩ thú y, Sài Gòn

128. Thái Văn Tự, học tập và làm việc tại Wisconsin, Hoa Kỳ

129. Nguyễn Bích Hạnh, học tập và làm việc tại Wisconsin, Hoa Kỳ

130. Anthony Thiên Ân, học tập và làm việc tại Wisconsin, Hoa Kỳ

131. Nguyễn Huy Tuấn, Hải Dương

132. Huỳnh Hồng Vân, Cộng hòa Séc

133. Lưu Thị Được, Hải Phòng

134. Nguyễn Peter, công dân VN và Mỹ, hiện đang sống và làm việc ở Mỹ

135. Nguyễn Quang Nghĩa, TP Hồ Chí Minh

136. Vũ Ngọc Hưng, làm việc tự do, Gia Lâm, Hà Nội

137. Thái Văn Dung, Diễn Châu, Nghệ An

138. Phan Thị Hồng, giáo viên, Đà Nẵng

139. Hà Dương Tuấn, dịch giả, Cộng hòa Pháp

140. Tuấn Khanh, nhạc sĩ, Sài Gòn

141. Bửu Nam, giảng viên Đại học Huế

142. Lê Thị Thấm Vân, nhà văn, Hoa Kỳ

143. Nguyễn Hữu Thao, kinh doanh, Sofia, Bulgaria

144. Nguyễn Kim Huân, kỹ sư xây dựng, Hà Nội

145. Nguyễn Quang Vinh, sĩ quan Quân đội nghỉ hưu, Hà Nội

146. Ca Dao, Cộng hòa Pháp

147. Đặng Xuân Thảo, Viện Khoa học Quốc gia Pháp

148. Đỗ Đức, hoạ sĩ, hội viên Hội mĩ thuật Việt Nam, Hà Nội

149. Lê Ngọc Hòa, thường dân, Sài Gòn

150. Bich Tran, kỹ sư, Cộng hòa Pháp

151. Nguyễn Vân Khanh, Bà Rịa Vũng Tàu

152. Nguyễn Văn Tảo, Bắc Giang

153. Võ Ngọc Duy, công nhân, Australia

154. Hoàng Vũ Thuật, nhà thơ, Quảng Bình

155. Tran Chien, công nhân, CHLB Đức

156. Phạm Hữu Uyển, Praha Cộng hòa Séc

157. Vũ Hồng Ánh, nghệ sĩ cello, Sài Gòn

158. Nguyễn Đức Long, làm việc tại CHLB Đức

159. Lê Bá Diễm Chi (tức Song Chi), thạc sĩ điện ảnh và truyền hình, nhà báo tự do, Oslo, Na Uy

160. Trần Anh, làm thơ, Cam Ranh, Khánh Hòa

161. Đỗ Quang Nghĩa, CHLB Đức

162. Giao Hưởng (Trần Phá Nhạc), nhà báo, TPHCM

163. Nguyễn Tấn Trí, Phật tử, Qui Nhơn, Bình Định

164. Võ Ngọc Chuyển (Chu Uyên), nghỉ hưu, TPHCM

165. Võ Duy Nguyên, thường dân, Quảng Ngãi

166. Phạm Ngọc Lâm, Nha Trang, Khánh Hoà

167. Nguyễn Thái Nguyên, TS Kinh tế, Hà Nội

168. Đặng Hải Sơn, đã nghỉ hưu, San Francisco, Mỹ

169. Nguyễn Thanh Cương, Cộng hòa Séc

170. Phan Xuân Hậu, nhà văn, Nghệ An

171. Nguyễn Thị Thanh Thủy, cán bộ hưu, Đà Nẵng

172. Trịnh Văn Tiên, cựu chiến binh, Bình Dương

173. Nguyễn Thị Hồng Loan (bút hiệu Bạch Cúc), Bà Rịa Vũng Tàu

174. Đinh Văn Hải, Lâm Đồng

175. Mai Thanh Sơn, nghiên cứu viên chính, Viện Khoa học Xã hội vùng Trung bộ, thuộc Viện HLKHXH Việt Nam

176. Huỳnh Ngọc Chênh, nhà báo, Đà Nẵng-Hà Nội

177. Nguyễn Thúy Hạnh, Hà Nội

178. Thái Quốc Việt, Phú Tân, An Giang

179. Trần Anh Tuấn, Sài Gòn

180. Dương Quốc Cường, hưu trí, Berlin, CHLB Đức

181. Nguyễn Thị Lan, Mộc Châu, Sơn La

182. Trần Quốc Hùng, TPHCM

183. Thiếu Khanh, nhà thơ, dịch giả, Sài Gòn

184. Lưu Thị Kim Oanh, nhân viên văn phòng, Sài Gòn

185. Trần Kế Dũng, Australia

186. Nguyễn Hoàng Phi, thường dân Hải Phòng

187. Nguyễn Sơn Long, Hải Phòng

188. Nguyễn Thị Thơ, huyện Vĩnh Bảo, TP Hải Phòng

189. Đoàn Thôn, Bà Rịa Vũng Tàu

190. Lê Minh Cẩm Lệ, Ba Đồn, Quảng Bình

191. Nguyễn Văn Khải, Lý Nhân, Hà Nam

192. Phạm Xuân Thông, Hà Nội

193. Đặng Thị Lệ Tâm, thường dân, thành phố Huế

194. Nguyễn Viết Hùng, Thành phố Hồ Chí Minh

195. Nguyễn Hồng Hà, Hải Phòng

196. Đinh Đức Long, TS BS, Sài Gòn

197. Lê Minh Trang, phó thường dân Hoa Kỳ

198. Trần Ngọc Thạch, Tân Hiệp, Kiên Giang

199. Nguyễn Đăng Đại, cán bộ, TP Hà Tĩnh

200. Phạm Thị Thu Hậu, Sài Gòn

201. Trần Nhị Hoàng, nông dân, Phan Thiết, Bình Thuận

202. Đoàn Quang Minh, Sài Gòn

203. Khac Thinh Nguyen, Đông Hà, Quảng Trị

204. Phạm Thế Cuờng, hưu trí, Sài Gòn

205. Nam-Ky Nguyen, chuyên viên Thống kê, Hà Nội

206. Nguyễn Quang Điệp, Daklak

207. Vũ Thị Mai, Hà Nội

208. Nguyễn Tấn Phùng, Q7 TPHCM

209. Võ Như Triều, Q7, TPHCM

210. Lê Anh Hùng, nhà báo độc lập, Hà Nội

211. Hồ Uy Liêm, cán bộ khoa học, Hà Nội

212. Hoàng Châu, Tây Hồ, Hà Nội

213. Trần Đức Đại, Hà Nội

214. Bùi Trần Đăng Khoa, luật sư, TPHCM

215. Bá Linh Võ, hưu trí, TPHCM

216. Trà Đóa, viết văn, Sài Gòn

217. Phạm Đình Tuyên, về hưu, Hoa Kỳ

218. Kiều Quốc Khánh, Bác sĩ hưu trí, Hà Nội

219. Bùi Trúc Linh, nhà báo tự do, Sài Gòn

220. Đặng Minh Liên, nhà nghiên cứu và sáng tác điện ảnh, hưu trí, Hà Nội

221. Văn Giá, nhà văn, Hà Nội

222. Trần Đức Thạch, nhà thơ, Nghệ An

223.  Lê Thị Kiều Oanh, nội trợ, Sài Gòn

224. Thanh Xuân, TPHCM

225. Nguyễn Đạt Ân, Sài Gòn

226. Đào Hiếu, nhà văn, TPHCM

227. Đỗ Hùng, chạy xe ôm, Sài Gòn

228. Nguyễn Tấn Phương, Phan Thiết, Bình Thuận

229. Le Huu Hung, Dayton, Ohio, Hoa Kỳ

230. Nguyễn Văn Trinh, Đài PTTH Quảng Ngãi

231. Lưu Thành Trung, công nhân, Hoa Kỳ

232. Nguyễn Văn Công, GS TS Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội

233. Đỗ Ngọc Thống, PGS TS Ngữ văn, Hà Nội

234. Nguyễn Nhật, Hà Nội

235. Nguyễn Thiên Chương, Thủ Đức, Sài Gòn

236. Đào Hữu Phúc, giáo viên về hưu, Gia Lai

237. Matthew Nguyen, Portland, OR, Hoa Kỳ

238. Trần Thu Thủy, cựu sinh viên Luật, hưu trí, Sài Gòn

239. Dương hồng Lam, hưu trí, Sài Gòn

240. Phạm Lưu Vũ, nhà văn, Hà Nội

241. Đặng Văn Tiến, Bình Chánh, Sài Gòn

242. Nguyễn Việt Vương, Quảng Ngãi

243. Trần Đức, Q8 Sài Gòn

244. Lê Diễn, Đà Nẵng

245. Nguyên Thị Ngọc Diệp, kinh doanh, TPHCM

246. Nguyễn Công Thiện, Quảng Nam

247. Nguyễn Thi, kinh doanh, Hà Nội

248. Kiệt Nguyễn, Hoa Kỳ

249. Phan Thu Hải, hưu trí, Hà Nội

250. Truong Quoc Tuan, bác sĩ, Sydney, Australia

251. Tống Ngọc Nga, dân đen, Long Thành, Đồng Nai

252. Nguyễn Thị Mỹ Nhung, nhân viên văn phòng, Bình Định

253. Bùi Thị Minh Trâm, Sài Gòn

254. Đinh Lê Hồng Việt, dân thường Hà Nội

255. Vũ Xuân Quang, phó thường dân, Q3, TPHCM

256. Phạm Anh Tuấn, kỹ sư dầu khí, Thành phố Vũng Tàu

257. Nguyễn Thu Hương, Hà nội

258. Đặng Nguyên Hạnh, TPHCM

259. Nguyễn Thị Thu Hương, Hoàng Mai, Hà Nội

260. Vu Hoang, SC 29223, Hoa Kỳ

261. Nguyễn Văn Kiệm, luật sư Đoàn Luật sư Hà Nội

262. Hoa Vo, nhà thơ, Oregon, Mỹ

263. Hoàng Anh Hùng, Tân Bình, Sài Gòn

264. Nguyễn Tường Thụy, nhà báo độc lập, Hà Nội

265. Nguyễn Thị Ngọc Lãm, Đaklak

266. Tương Lai, GS, cựu Viện trưởng Viện Xã hội học, TPHCM

267. Trần Thế Việt, nguyên Bí thư Thành ủy Đà Lạt

268. Vũ Trọng Khải, PSG TS Kinh tế, TPHCM

269. Hoàng Minh Tường, nhà văn, Hà Nội

270. Cao Thúy Cát, buôn bán, quận Bình Thạnh, Sài Gòn

271. Nguyen Thi Thu Huong, Sài Gòn

272. Đồng Chuông Tử, làm thơ, Bình Thuận

273. Hồ Ngọc Nhuận, nhà báo, dân biểu đối lập thời Việt Nam Cộng hòa,  Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam của thành phố Hồ Chí Minh, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

274. Vũ Thế Khôi, nhà giáo Ưu tú, Hà Nội

275. Nguyễn Thanh Tâm, cựu PCT Nội Vụ BCHCĐVN Oregon, Hoa Kỳ

276. Nguyễn Đăng Hưng, Giáo sư danh dự Đại học Liège, Sài Gòn

277. Nguyễn Xuân Thọ, Kỹ sư truyền thông, CHLB Đức

278. Trương Văn Vấn, Trang Mạng T. Vấn & Bạn Hữu, Hoa Kỳ

279. Đặng Đình Cung, kỹ sư tư vấn, Pháp

280. Võ Ngọc Ánh, cựu phóng viên Saigon Times Group, Hoa kỳ

281. Mai Văn Võ, cựu chiến binh, cựu tù nhân lương tâm, Nam Định

282. Đặng Trọng Dũng, luật sư, TPHCM

283. Hoàng Thị Hà, giáo viên hưu trí, Hà Nội

284. Nguyễn Thị Thu Hà, Nha Trang

285. Đoàn Khắc Xuyên, nhà báo, TPHCM

286. Đào Tiến Thi, nhà nghiên cứu văn học và ngôn ngữ, nguyên Ủy viên Ban chấp hành Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, Hà Nội

287. Nguyễn Thanh Tiến, phiên dịch viên, Melbourne, Australia

288. Nguyễn Viện, cựu chiến binh Mặt trận Tây Nam, TPHCM

289. Nguyễn Xuân Liên, 76 tuổi, Hà Nội

290. Phan Anh, hưu trí, thương binh, Hà Nội

291. Trịnh Văn Hoàn, nông dân, Bắc Giang

292. Đào Thu, giảng viên, Hà Nội

293. Vũ Đình Kh, nhà văn, Canada

294. Phạm Thị Lân (Lân Tường Thụy), nội trợ, Hà Nội

295. Đinh Đình Điệp, Hải Phòng

296. Trần Khắc Đạt, Lâm Đồng

297. Trần Đức Thắng, cựu chiến binh hưu trí, Hà Nội

298. Lê Mạnh Năm, nghiên cứu viên, Hà Nội

299. Trương Quốc Tuấn, bác sĩ, Sydney, Australia

300. Trần Phương Hà, hưu trí, Hà Nội

301. Trần Tiến Bình, hưu trí, Hà Nội

302. Nguyễn Kim Phượng, dược sĩ, hưu trí, Hà Nội

303. Phạm Hồng Hạnh, giáo viên, Hà Nội

304. Hoàng Trọng Kim, GS TS BS, nguyên Chủ nhiệm Bộ môn Nhi, Đại học Y Dược TPHCM

305. Nguyễn Thị Phương Thảo, luật sư, chủ doanh nghiệp, Hà Nội

306. Phan Quốc Tuyên, kỹ sư tin học, Thụy

307. Lê Viết Du, chăn nuôi, TPHCM

308. Vũ Đình Khánh, trồng trọt, Hưng Yên

309. Thích Vô Danh, tỳ kheo, CHLB Đức

310. Hoàng Văn Khẩn, TS Sinh hoá học, Genève, Thụy Sĩ

311. Lê Phước Sinh, dạy học, Sài Gòn

312. Tiêu Dao Bảo Cự, nhà văn tự do, Đà Lạt

313. Mai Thái Lĩnh, nhà nghiên cứu, Câu lạc bộ Phan Tây Hồ, Đà Lạt

314. Vũ Thị Phương Thảo, kế toán xuất nhập khẩu, Sài Gòn

315. Đăng Văn Thúc, nhân viên văn phòng

316. Lê Xuân Hoàng, IT, Thành phố Huế

317. Nguyễn Công Viên, BS CK2 Nhi khoa, TPHCM

318. Nguyễn Quang Nhàn, hưu trí, Đà Lạt

319. Nguyễn Văn Lịch, Hà Nội

320. Nguyễn Linh Đan, giáo viên, Sài Gòn

321. Mai Văn Rê, kinh doanh, Sài Gòn

322. Nguyễn Thị Minh Hà, Hà Nội

323. Phan Mạnh Thành, TPHCM

324. Jalau Anưk Trương Đăng Ái, nghề viết, Ninh Thuận

325. Trương Thị Trúc Đào, Sài Gòn

326. Nguyễn Đức Tùng, nhà thơ, nhà phê bình, Canada

327. Phùng Hoài Ngọc, cựu giảng viên đại học, An Giang

328. Giang Anh Vũ, kiến trúc sư, Hải Phòng

329. Nguyễn Thành Trung, kỹ thuật máy tính, Biên Hòa

330. Lê Tuấn Huy, TPHCM

331. Lê Thị Thu Hà, nội trợ, TP Vũng Tàu

332. Lê Trần Thị Hải Âu, Waiblingen, CHLB Đức

333. Trần Khang Thụy, nguyên giám đốc Trung tâm nghiên cứu & ứng dụng khoa học kinh tế (CESAIS), thuộc trường Đại học Kinh tế TPHCM

334. Nguyễn Vũ, kinh doanh tự do, Sài Gòn

335. Lê Minh Hà, nhà văn, CHLB Đức

336. Nguyễn Thị Bích Hạnh, hưu trí, TPHCM

337. Nguyễn Thượng Long, Hà Đông, Hà Nội

338. Hoàng Hùng, kinh doanh, Praha, Cộng hoà Séc

339. Huỳnh Nhật Hải, hưu trí, Đà Lạt

340. Huỳnh Nhật Tấn, hưu trí, Đà Lạt

341. Nguyễn Hoài Thu, kỹ sư, Hà Nội

342. Nguyễn Phương, hưu trí, TPHCM

343. Hau Phamova, Praha, Cộng hòa Séc

344. Vương Quốc Toàn, Hải Phòng

345. Trần Bích Vi, Viet Nam National Petroleum Group, Hà Nội

346. Nguyễn Hoàng Hưng, kỹ sư xây dựng, Hà Nội

347. Ngô Quang Đồng, kỹ sư, Sài Gòn

348. Nghiêm Văn Long, Đông Anh, Hà Nội

349. Do Bao Loc, buôn bán

350. Anton Lê Ngọc Thanh, Linh mục DCCT, Sài Gòn

351. Thái Khắc Phú, TPHCM

352. Bùi Tuấn Dương, buôn bán tự do, Dak Glong, Dak Nông

353. Lan Phương, Hà Nội

354. Nguyễn Hà Châu, Ban Mê Thuột

355. Nguyễn Phú Hải, đại tá cựu chiến binh, Hà Nội

356. Nguyễn Thế Hùng, hưu trí, Hà Nội

357. Le Trinh Xuan Thanh, Hoa Kỳ

358. Lê Thị Ngọc, giáo viên, TPHCM

359. Trần Văn Long, Phong Điền, Thừa Thiên Huế

360. Phan Q Bao, công dân, Đà Nẵng

361. Vũ Đình Lộc, công nhân, Hà Nội

362. Huỳnh Hồng Phương, làm việc tự do, Quy Nhơn, Bình Định

363. Nguyễn Hưng, kỹ sư diện toán, Paris, Pháp

364. Nguyễn Mạnh Hùng, mục sư Tin lành, Sài Gòn

365. Trương Quang Khanh, kỹ sư, Sài Gòn

366. Giuse Hồ Đắc Tâm, Dòng Chúa Cứu Thế

367. Trần Quang, TS kỹ sư (đã về hưu), Stuttgart, CHLB Đức

368. Lưu Toàn Phong, TP Vũng Tàu

369. Lâm Bình Duy Nhiên, kỹ sư/ nhà giáo, Lausanne, Thụy Sĩ

370. Trần Đình Sử, GS Đại học, Hà Nội

371. Phan Xuân Hùng, hưu trí

372. Tran Trong Hai, hiện cư ngụ tại Đức

373. Nguyễn Thị Diễm Châu, nhân viên văn phòng

374. Nguyễn Gi Lăng, kỹ sư, Hungary

375. Vu Luyen, kinh doanh tại Oklahoma, Hoa Kỳ

376. Tô Lê Sơn, kỹ sư, thành viên CLB Lê Hiếu Đằng, TPHCM



Xin mời quý vị hưởng ứng tuyên bố này tiếp tục ký tên, với họ tên, nghề nghiệp, chức danh (nếu có), nơi cư trú (tỉnh/thành phố, quốc gia). Thư xin gửi về:

tuyenbodaknong@gmail.com

Văn Hải ngoại sau 1975 (kỳ 3): Nguyễn Xuân Hoàng


NGUYỄN XUÂN HOÀNG

Tổng thư ký tạp chí Văn, Sài Gòn, Việt Nam 1972.

Tổng thư ký nhật báo Người Việt, California, Hoa Kỳ 1987.

Tổng thư ký tạp chí Thế Kỷ 21, California, Hoa Kỳ 1989.

Ban chủ nhiệm tạp chí Văn học, California, Hoa Kỳ 1994.

Chủ nhiệm kiêm chủ bút tạp chí Văn, Hoa Kỳ, 1996.

Tổng thư ký báo Việt Mercury trực thuộc nhật báo San Jose Mercury News của Hoa Kỳ (1998- 2005).

Sau đó chủ trương báo Việt Tribune.

Sau một thời gian định cư tại San Jose (Bắc California, Hoa Kỳ), ông qua đời tại đây vào ngày 13 tháng 9 năm 2014

Kẻ Di Truyền Sách (kỳ 3)

Trần Vũ thực hiện

clip_image001clip_image003

Tranh Mila Posthumus

clip_image005Trần Vũ: Hãy bắt đầu với Tôi-Không-Biết Wislawa Szymborska mà Ngu Yên sưu tập, tổng hợp, giới thiệu, nhận định và dịch thơ. Trước hết, vì sao Wislawa Szymborska? Vì là Nobel 1996? Có khá nhiều Nobel cho Ngu Yên chọn, như Czeslaw Milosz, Nobel 1980, cũng là một thi sĩ đã tặng thơ cho các lãnh tụ:

Người là ai — sát nhân hay anh hùng?

Người, mà đêm đã dâng cho hành động.

Nắm trong tay số phận ông lão và trẻ thơ

Gương mặt

Tựa quái vật bùn nhìn thế giới

Người rất tốt bụng và đôi khi giữa các đồng chí

Vuốt má thiếu nhi

Nhưng nếu một triệu gia đình cùng nguyền rủa

Hãy coi chừng! Còn lại gì những ngày vinh quang?

Còn lại gì trong diễn văn Phải Phấn Đấu?
Bóng đêm đang đến.

[Czeslaw Milosz, Au Politicien]

Lí luận văn học Nga hậu xô viết (3)

Lã Nguyên

II. Sự sụp đổ của nền lí luận văn học Xô viết chính thống

Hơn hai chục năm nay, kể từ khi Trung Quốc tiến hành “cải cách mở cửa” và Việt Nam thực hiện công cuộc “đổi mới”, trên diễn đàn văn học ở cả hai nước, người ta đã tổ chức hàng trăm cuộc hội thảo lớn nhỏ nói về sự yếu kém của lí luận, phê bình văn học và bàn kế sách thúc đẩy sự phát triển của nó. Quan sát những cuộc hội thảo như thế, đâu đâu tôi cũng nghe thấy “chúng khẩu đồng từ” nhất loạt đổ tội cho Liên Xô, xem việc trước kia mình bắt chước mô hình lí thuyết của ông “anh cả” để xây dựng nền lí luận văn học của dân tộc là nguyên nhân tạo nên sự yếu kém và tình trạng xơ cứng của nó về sau này. Nếu có chút hiểu biết về Liên Xô ta sẽ thấy, nói như thế là không thực sự cầu thị. Bởi vì nền lí luận văn học của Liên Xô chưa bao giờ là hiện tượng thuần nhất. Ở Liên Xô, giai đoạn nào cũng vậy, bên cạnh hệ thống lí luận văn học chính thống, còn có rất nhiều hệ thống lí thuyết phi chính thống. Mà những thứ phi chính thống này đều là “vàng mười”, chứ nào có phải là “thau” đâu! Đó là thi pháp học lí thuyết của Trường phái hình thức, là kí hiệu học văn hoá của Trường phái Tartus - Moskva, là di sản triết học, mĩ học của M. Bakhtin, người đã mở ra cả một “hệ hình tư duy mới của thiên niên kỉ thứ ba”[1]. Các nước Âu - Mĩ đã khai thác mỏ vàng ấy để tạo nên một thời đại lí luận văn học vô cùng giàu có, rạng rỡ kéo dài suốt từ những năm 60 cho đến hết những năm 80 của thế kỉ trước. Trung Quốc, Việt Nam và nhiều nước trong phe xã hội chủ nghĩa lại tìm thấy cho mình kho báu tri thức ở hệ thống lí luận văn học chính thống của Liên Xô. Nhưng thực tiễn lịch sử cho thấy, cùng với sự tan rã của Liên Xô, hệ thống lí luận này đã sụp đổ. Vậy lí luận văn học chính thống ở Liên Xô là gì? Nó được hình thành từ bao giờ? Trước khi sụp đổ, nó có vị trí thế nào trong cấu trúc chỉnh thể của khoa nghiên cứu văn học Xô Viết? Phải trả lời được những câu hỏi như thế, ta mới hy vọng rút ra những bài học bổ ích cho việc xây dựng nền lí luận, phê bình văn học Việt Nam.

Nhà phê bình Thụy Khuê: Phê bình văn học thế kỷ XX là cuốn sách quan trọng nhất trong đời tôi


Văn Việt xin gửi đến các bạn toàn văn bài phỏng vấn nhà phê bình Thụy Khuê (đã bị cắt bớt khi đăng trên báo Tuổi Trẻ ngày 4/1/2018)


Diệu Thủy thực hiện

Phê bình văn học thế kỷ XX, cuốn sách đồ sộ sáu trăm của nhà phê bình Thụy Khuê, vừa được ấn hành. Công trình công phu và giàu tính khoa học này là một đóng góp quan trọng cho hoạt động nghiên cứu, sáng tác cũng như đọc tác phẩm văn chương ở Việt Nam.

thuy-khue-3-1-1read-only-1515034358223