Danh Ngôn

Vào những ngày đầu của một chuyển biến lớn, nhà yêu nước là một người hiếm hoi, vừa can trường vừa bị thù ghét, khinh khi. Khi chính nghĩa của ông ta thành công, những kẻ hèn nhát bắt đầu đứng vào hàng ngũ của ông, vì khi ấy làm một nhà yêu nước sẽ không mất mát gì cả.

In the beginning of a change, the patriot is a scarce man, and brave, and hated and scorned. When his cause succeeds, the timid join him, for then it costs nothing to be a patriot.

Mark Twain, Notebook, 1935

Rêu rao tình yêu nước, ôi một trò lừa bịp; đó là một từ luôn luôn vinh danh một cuộc cướp giật. Không có một tấc đất nào trên thế giới mà không tượng trưng cho cuộc trục xuất và tái trục xuất những chủ nhân ông tiếp nối nhau trong một xâu chuỗi rất dài.

Talking of patriotism, what humbug it is; it is a word which always commemorates a robbery. There isn’t a foot of land in the world which doesn’t represent the ousting and re-ousting of a long line of successive owners.

Mark Twain, Notebook, 1935

Ban biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Ăn cắp vì đói

ĐẶNG Đình Cung
Kỹ sư tư vấn

Nghỉ hè là dịp để đọc các sách báo mà trong năm bận rộn không có thì giờ đọc. Chúng tôi xin trích dịch sau đây hai đoạn chúng tôi đã đọc và đã làm chúng tôi xúc động.

Đoạn thứ nhất trích từ tiểu thuyết "Les Misérables" của văn hào Victor Hugo. Đoạn thứ hai do ký giả Pascale Robert-Diard đăng trên báo Le Monde số ngày mồng một tháng tám 2016.

Les Misérables (Victor Hugo)

Đây là chuyện Jean Valjean bị đày khổ sai vì đã ăn cắp một ổ bánh mì trích từ tiểu thuyết nổi tiếng "Les Misérables" mà chúng tôi vừa đọc lại toàn bộ. Chúng tôi không hỗn láo giới thiệu ai là văn hào Victor Hugo mà chỉ dám nói rằng ông có cái tài hiếm hoi là vắt nước mắt của độc giả cho tới giọt cuối cùng. Tiểu-thuyết đã được nhiều người dịch sang tiếng Việt. Đoạn đăng sau đây do chúng tôi dịch.

[...]

Tối chủ nhật nọ, ông Maubert Isabeau, làm nghề làm bánh ở quảng trường Nhà Thờ, làng Favrolles, đang chuẩn bị đi ngủ thì nghe một tiếng đập mạnh vào cửa hàng có phên và kính của ông. Ông chạy đến và thấy một cánh tay thò qua một lỗ hổng do một nắm tạy đấm vào phên và cửa kính. Tay đó vớ và lấy ra một ổ bánh. Ông Isabeau vội vã chạy ra ngoài. Kẻ trộm chạy trốn nhanh. Ông Isabeau chạy theo và bắt hắn. Tên trộm đã vứt ổ bánh nhưng vẫn còn cánh tay máu me. Người đó là anh Jean Valjean.

Chuyện này xảy ra năm 1795. Anh Jean Valjean đã bị đưa ra tòa án của thời buổi đó với tội danh "trộm đêm tại một nhà có người ở". Ở nhà anh có một khẩu súng mà anh biết sử dụng tài hơn ai, thỉnh thoảng anh cũng đi săn lén và điều đó đã làm nặng tội anh. Săn lén, cũng như buôn lậu, là tội nặng gần như là ăn cướp. Nhưng cũng phải nói ngay rằng những loại phạm nhân đó khác xa với một sát nhân ở thành thị. Kẻ săn lén sống trong rừng. Kẻ buôn lậu sống trên núi hay ngoài khơi. Thành thị sinh sự tàn bạo vì làm cho con người hư hỏng. Núi rừng, biển cả sinh ra hoang dã. Chúng khai triển tính e ngại người nhưng không phá hủy nhân tính.

Anh Jean Valjean bị kết tội. Các điều khoản của bộ luật thật là rõ ràng. Trong thế-giới văn minh này có những lúc khủng khiếp như là lúc lời tuyên phạt nhấn chìm cả một đời sống. Hỡi ôi giây phút tang thương khi xã hội rời xa và cố tình bỏ rơi vĩnh viễn một chúng sinh! Anh Jean Valjean đã bị tuyên án năm năm khổ sai.

Việt Nam mãi nghèo vì người Việt quá lười? Ngẫm sâu hơn, có thể bạn sẽ nghĩ khác!

Hiệu Minh

Việt Nam mãi nghèo vì người Việt quá lười? Ngẫm sâu hơn, có thể bạn sẽ nghĩ khác!

Phó Tổng giám đốc FPT Đỗ Cao Bảo "gây bão" khi phân tích lý do "Vì sao người Việt mãi nghèo?"

 

Có bài viết "Tại sao người Việt mãi nghèo?" đang được tranh luận khá thú vị trên mạng, dường như tác giả cho rằng, lỗi thuộc về con người xứ này. Nhưng câu chuyện không đơn giản như vậy.

Cũng những nông dân ấy

Những năm 1960-1980 có phong trào hợp tác xã (HTX) trên toàn quốc. Nông dân xứ Việt bỗng trở nên lười biếng.

Khi còn ở cá thể, họ ra đồng từ tờ mờ sáng đến mặt trời đứng bóng, trưa nghỉ vài tiếng, chiều làm tới tối mịt. Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ, muốn không chết đói phải cố mà làm.

Vào HTX, cũng những con người ấy nhưng ra đồng lúc mặt trời đã lên cao, tát nước qua loa và nghỉ, chiều có kẻng nhưng còn chán chê chè thuốc dưới gốc đa, chưa tới giờ đã về. Tay mình làm người khác nhai, nên chẳng quai nữa.

Thơ Phạm Cao Hoàng

PCH PortraitDRAN, NGÀY VỀ

 

Tặng anh Đinh Cường

 

khi tr v chàng đng ngn ngơ

git nước mt rơi trên nn đt cũ

đêm Dran

nh tiếng xe th m

v hướng Kado v phía Lc Lâm

đêm Dran

nh quá tiếng đàn

Văn học miền Nam 54-75 (237): Thích Nhất Hạnh (7)

Nẻo về của ý - chương 02

Mấy hôm nay mưa lớn quá. Nguyên Hưng. Căn nhà gỗ Pomona của tôi bị dột, mưa giọt xuống ướt cả mấy cuốn sách để trên bàn. Tôi phải dời cái bàn đi mấy lần mới tìm ra được một chỗ bảo đảm. Tối hôm qua một đám thanh niên chừng hai chục người từ trại Rangers đã tới thăm Pomona để nghe tôi nói chuyện về đạo Phật. Trong thời gian lưu trú tại đây, tôi làm guest speaker cho cả trại mà. Nói cho nhóm này nghe rồi đến nhóm khác, về đủ các thứ chuyện. Tôi đã nói cho tất cả là tám nhóm rồi kể cả một nhóm cherrokees nhỏ xíu. Nhóm Rangers là nhóm lớn. Họ mang tới mỗi người một ôm củi dể đót trong lò sưởi lều Pomona của tôi. Trời hơi lạnh thành đốt như thế vừa ấm lại vừa vui. Họ ngồi quây quần quanh lò sưởi nghe tôi nói chuyện. Lúc đó tôi mặc chiếc áo nhật bình mầu khói hương, cho nên tôi bắt đầu nói về chiếc áo nhật bình để cho họ biết đây là chiếc áo đặc biệt của những chú tiểu Việt Nam chứ không phải là quốc phục Việt Nam như vài người đã lầm tưởng. "Đáng lẽ thì tôi mặc chiếc áo tràng mầu nâu kia kìa", tôi vừa nói vừa chỉ chiếc áo treo ở góc phòng, "nhưng vì muốn có cảm giác trẻ con nên tôi ưa mặc áo nhật bình". Thế rồi tôi đứng dậy mặc chiếc áo tràng vào và giải thích cho họ biết ý nghĩa của mầu nâu. Màu của khiêm nhượng của trầm lặng và của ý hướng đồng sự với người dân quê. Nhân tiện tôi cũng khoác chiếc y màu vàng lên và giải thích cho họ biết thế nào là giải thoát phục và trong những trường hợp nào thì cần phải mang y. Và do đó tôi nói đến sự khác biệt của hai truyền thống Nam Tông và Bắc Tông của đạo Phật và một vài khởi điểm của nhận thức đạo Phật. Rồi tôi chỉ cho họ biết một ít điểm dị đồng căn bản giữa đạo Phật và Cơ đốc giáo là tôn giáo mà họ đang theo. Thường thường những buổi nói chuyện như thế được họ theo dõi một cách rất chăm chú và khi tôi kết thúc buổi nói chuyện, họ đặt rất nhiều câu hỏi. Nếu chỉ cho họ hỏi mãi có lẽ họ sẽ hỏi cho đến hết ngày. Những điều họ tò mò muốn biết thì vô cùng mà thời gian dành cho những câu hỏi thì có hạn. Họ hỏi nhiều câu như: tại sao mái chùa lại cong lên như vậy? Tại sao lại ăn chay? Ông Thầy tu đạo Phật cưới vợ được không? đạo Phật nghĩ về đức Jésus như thế nào? những câu hỏi như thế tuôn ra bất tuyệt. Hồi hôm, để chấm dứt, tôi bảo họ im lặng để tôi đọc cho họ nghe một bài kinh. Tôi đọc bài "vô biên phiền não đoạn". Khi họ ra về thì đã mười một giờ. Tôi cho thêm ít củi vào lò sưởi, và còn lại một mình tôi ngồi nhìn ngọn lửa bốc cháy. Trời vẫn còn mưa tầm tã. Chắc Saigon cũng đang mưa. Thanh Tuệ từ Đại Hà vừa viết thư cho biết rằng Phương Bối mưa suốt mấy tuần nay, mái nhà Thượng trên đồi đã bị gió thổi bay mất một mãnh lớn. Không biết Tuệ có chịu vào chữa lại hay không, hay là lại để cho gió tốc cả cái nhà Thượng đi mất. Chiếc nhà Thượng cao chót vót trên đỉnh đồi chính mà chúng ta đã mất bao nhiêu công trình mới làm nên được. Chiếc nhà ấy đẹp nhất trong những ngôi nhà rải rác ở các núi đồi Phương Bối, có phải không Nguyên Hưng. Hai mái thật cao như hai bàn tay người Phật tử chắp lại kiểu hiệp chưởng khi chào nhau. Chính trong ngôi nhà Thượng ấy chúng ta đã sống những giờ thật vui vẻ và thanh tịnh. Những giờ học tập, hội thảo, đàm đạo, uống trà và cả nghe âm nhạc nữa. Bữa khánh thành ngôi nhà, tôi còn nhớ, chúng ta đã nấu xôi và chè đậu xanh đãi vỏ ăn mừng. Nhà Thượng được làm theo kiểu nhà sàn, và chúng ta đã ngồi bệt xuống sàn nhà theo kiểu người Nhật và khi đau chân quá thì đổi ra kiểu người Miên.

Cứ thử đừng... “hèn” mà xem!

(Rút từ facebook của Lưu Trọng Văn)

 

Đỗ Cao Bảo, Phó Tổng giám đốc phụ trách kinh doanh của FPT vừa gây bão cộng đồng mạng khi viết bài phân tích về nguyên nhân người Việt mãi nghèo:

- Thanh niên không chịu lập nghiệp, nằm chờ người khác tạo công ăn việc làm cho mình, giờ làm việc thì bớt xén, người còn sức lao động, chưa già đã muốn nghỉ "an nhàn tuổi già", "sum vầy bên con cháu" thì mãi mãi nghèo cũng là chuyện không thể khác.

- “Tư duy nhỏ, quanh quẩn xó nhà", nếu không có tư duy lớn, người Việt sẽ chỉ làm những việc bé, không có những công ty lớn thì không thể cạnh tranh quốc tế, không thể làm được những việc lớn. Các doanh nhân Việt không dám nghĩ lớn, không dám đương đầu, cạnh tranh sòng phẳng với các hãng nước ngoài, dù là trên sân nhà. Vì thế, thật đáng buồn khi các thương hiệu Việt bị các hãng nước ngoài nuốt chửng, mất luôn tên tuổi. Trong đó có thể kể đến kem đánh răng Dạ Lan bị Colgate Palmolive nuốt, kem đánh răng PS về tay Unilever, bia Huế về tay Carlsberg Đan Mạch, Tribeco về tay Uni-President, Phở 24 và Highland Coffee về tay Jollibee Ford...

- Người Việt hay áp đặt suy nghĩ của mình cho người khác, không chấp nhận người khác chính kiến của mình.

- "Chân thành, tin cậy, đáng yêu, có trách nhiệm với xã hội là bốn đức tính đáng quí nhất của một doanh nhân. Thiếu bốn đức tính đó thì không thể là một doanh nhân lớn, không thể thành công trong thương mại. Nếu có thành công thì chỉ là thành công nhỏ, tạm bợ mà thôi".

Giờ ở quần đảo Hoàng Sa là giờ Trung Quốc hay giờ Việt Nam?

Hoàng Dũng

 

Một người bạn cho tôi xem ba tấm ảnh chụp (bằng điện thoại di động) màn hình trên một chuyến máy bay Vietnam Airlines đi từ Hongkong về Việt Nam ngày 17 tháng 1 năm nay.

Hình 1 cho thấy máy bay đang trên không phận quần đảo Hoàng Sa, lúc 16g08.

Hình 2 sau đó hai phút, 16g10, hiển thị độ cao, vận tốc máy bay và nhiệt độ bên ngoài.

Tháng 7, 10 khúc cho những linh hồn vất vưởng

(Rút từ facebook của Trung Dũng Kqd)

1.
Tôi đã thấy
Những linh hồn chiến binh nhớ mẹ
Đang vất vưởng, lang thang ven suối, ven đồi...
Hồn Thanh Hóa, Thái Bình... dật dờ
Hồn Huế, Quảng Nam, Phan Rang... khóc kể
Có những hồn thở dài nhớ nước Mỹ, bơ vơ...

Có những hồn cứ tưởng mình đang sống
Hễ gặp hồn ai cũng nhoẻn miệng cười
Rồi cất tiếng ca mơ ngày chiến thắng
Mong về nhà để mẹ dắt đi chơi...

Tôi đã thấy
Cả rừng hồn chưa siêu thoát
Họ choàng vai nhau như không phải cựu thù
Họ thường hát, kể mỗi ngày về cô gái cạnh nhà, về con đường làng và mẹ...
Bốn mươi mấy năm rồi họ vẫn khóc, hát, kể say mê...

Tôi đã thấy ở Lạng Sơn, Hà Giang bữa đó
Hồn hỏi hồn sao ta phải hy sinh?
Sao người sống không cho hồn tử trận?
Hồn vị quốc vong thân chứ đâu phải chết bất thình lình...

Những cuộc chiến trên đất nước này như chưa hề siêu thoát
Người chết chắc đã cho qua nhưng người sống cứ bươi xới oán thù
Trong hương khói tôi nguyện cầu cho mẹ
Đón đủ mấy đứa con về từ muôn nẻo âm u.

NHẢY MÚA ĐỂ CHẾT (kỳ 4)

Tiểu thuyết

Nguyễn Viện

Hành trình một

Sự kiếm tìm mang màu sắc của đạo. Và hắn đang đứng lại cho một cuộc chia tay vĩnh viễn với dâu bể là dâu bể và cho dâu bể. Hắn bàng hoàng nhận ra dâu bể nôm na cũng là những biến động từ vựng và nó làm thay đổi cốt cách con người. Làm thay đổi sinh mệnh lịch sử. Thay đổi tận căn cơ sự đối mặt với các thành lũy văn hóa.

Hành trình hai

Hắn đứng trước cô hai và khẩn cầu: “Cửa ơi, hãy mở”. Nhưng cô hai đã mặc xong quần áo và nói: “Chìa khóa trong tay anh”. Hắn biết rằng tự thân hắn sẽ không bao giờ mở được cánh cửa đó. Chiếc chìa khóa sẽ không có giá trị gì nếu cánh cửa đã tự khóa. Chỉ có sự mặc khải mới phá vỡ được cánh cửa đã hoen rỉ kia. Nhưng sự mặc khải chỉ đến cho những ai chờ đợi nó trong thầm lặng. Cửa. Ơi. Hãy. Mở. Không bao giờ. Không bao giờ có một ẩn ngữ hay mật ngôn thay thế cho toàn bộ tiếng nói. Nhưng tiếng nói vẫn cần một chìa khóa để mở ra cái diễn ngôn toàn triệt.

Giấc mơ của bão

Truyện

Nguyễn Thị Thanh Bình

1.

Không biết cơn bão đã thổi y đến hay chính y đã kéo thốc cơn bão hoặc giả y là cơn bão khốc liệt và lạ lùng nhất.

Màu môi của bão là phiên khúc man rợ của quỷ dưới tầng cuối địa ngục và bàn tay bão muôn đời là những mũi tên hoang dại cắm vào ngực trần gian, xé rách mọi nỗi thanh bình của những bầu trời cùng đáy vực im lặng.

Bão đến. Vâng, Isabel đã rớt xuống thành phố đúng như tin khí tượng nhưng hoàn toàn nằm ngoài dự báo thời tiết trong cô.

Ừ nhỉ, làm sao y có thể biết được thời tiết trong cô thay đổi chớp nhoáng như thế nào. Cô cũng không tài nào đoán được sự hung hãn cuồng bạo của một cơn bão. Isabel là một cơn bão dữ hay y là một cơn bão điên (?!).

Tiếng vọng từ Chernobyl (kỳ 16)

Svetlana Alexievich

T. Vấn dịch

Ba Mẩu Độc Thoại

Độc Thoại

_____________________________

về Tự Do và ước mơ một cái chết bình thường

Đó chính là tự do. Bà mang cảm tưởng mình là một người tự do. Không dễ gì hiểu được cái cảm giác ấy, chỉ những người đã từng tham dự vào một cuộc chiến tranh mới có thể thực sự hiểu cảm giác đó là gì. Tôi đã gặp được những người như thế. Những chàng trai trong cơn say, kể lể về nỗi nhớ nhung ấy. Nỗi nhớ nhung mình đã từng được tự do như thế nào, khi họ tìm cách đào thoát khỏi chiến trường. Nhưng lệnh của Stalin : không được quay lui, dù một bước. Lính của đơn vị đặc biệt không được quyền tháo chạy. Cứ bóp cò súng, thì hy vọng sẽ sống còn, và sau đó nhận được 100 gram thuốc lá loại rẻ tiền. Ngoài chiến trường có cả hàng ngàn cách khác nhau để chết. Chẳng hạn, đạn pháo nổ làm tung xác ra thành từng mảnh, nhưng nếu bà cố gắng hết sức mình, bà có thể đánh lừa được - thần chết, cấp trên, hòn tên mũi đạn, cả người chết nằm trong chiếc quan tài thương tích đầy mình, cả đấng thượng đế quyền năng – tất cả bà đều có thể lừa được. Và sống sót!

Chuyện chép chữ

(Rút từ facebook của Inrasara)

 

Tôi là người mê chữ từ bé, khi còn chưa biết… chữ.

Anh Đạm lớn hơn tôi 3 tuổi, học trước tôi. Học bài, anh đọc to, tôi thuộc. Không biết chữ, tôi lấy cái vở có chữ của anh ra mân mê, và đoán chữ. Anh biết chữ Quốc ngữ trước tôi, tôi ngược lại: biết chữ Cham trước anh.

Lớp Ba, tôi lượm các câu ca dao cuối sách Tập Làm Văn ra chép, chép theo vần kết nối thành bài lục bát dài đến 4 trang vở.

Lớp Đệ Tứ, tôi chép Từ Điển Cham Pháp của Aymonier dày cui (3 năm sau bản thảo mất, tôi chép lần hai).
“Giải phóng” về, không biết làm gì, tôi lấy nguyên tập thơ Paroles của Prévert ra chép, chép và tập dịch.

Sau đó tôi còn chép Krishnamurti, Nietzsche, Heidegger, Kinh Phật… nữa.

Đã đến lúc cần phải đối thoại

Chu Hảo

 

Đấy là cuộc Đối thoại công khai giữa Ban lãnh đạo đảng cầm quyền và nhà nước với đại diện những người có ý kiến bất đồng ôn hòa, xây dựng ở trong đảng và mọi tầng lớp nhân dân ở trong và ngoài nước.

Vì chưa có điều kiện xuất hiện những tổ chức chính trị đối lập, cũng như chưa hình thành được một xã hội dân sự đủ mạnh để làm đối trọng với chính quyền, nên cuộc Đối thọai này phải do phía đảng độc quyền lãnh đạo chủ động mời gọi để tránh một cuộc xung đột không được kiểm sóat không thể không xảy ra nếu có thêm nhiều tiếng súng nữa tương tự như 9 tiếng mới phát nổ ở Yên Bái vừa qua.

Tiếng súng ở Yên Bái không phải chỉ phơi bày tình trạng tha hóa tột độ trong nội bộ đảng cầm quyền, mà còn chứng tỏ mức độ bất ổn chính trị - xã hội ở nước ta đã đến hồi nguy hiểm. Nguy hiểm cho sự lãnh đạo tuyệt đối của đảng và của chế độ thì đã đành, nhưng đó không phải là mối quan ngại của những người lâu nay công khai bày tỏ ý kiến bất đồng đối với những đường lối, chủ trương, chính sách sai trái của đảng và nhà nước. Những người này, trong đó có chúng tôi, âu lo về sự an nguy của dân tộc khi xảy sự bạo loạn ngoài tầm kiểm soát.

Vụ thảm sát Yên Báy và lời nói độc của một bác nông dân...

(Rút từ facebook của Lưu Trọng Văn)

 

Cha gã kể, thời học Quốc học Huế, cha gã và nhà văn Hoài Thanh đã kéo nhau ra bờ Sông Hương để cùng khóc khi nghe tin Nguyễn Thái Học và các đồng chí đảng viên Quốc dân đảng của ông bị bắn chết, cuộc Khởi nghĩa Yên Báy bị dìm trong biển máu.

Cha gã và thế hệ của ông không gọi “Yên Bái” mà “Yên Báy”.

Gã từng đến mộ của nhà yêu nước, yêu dân Nguyễn Thái Học nghiêng mình trước câu nói bất hủ của ông trước khi chết: Không thành công cũng thành Nhân.

Yên Báy, nơi sông Hồng chảy qua mùa này cuồn cuộn, ngầu đỏ, 8 tiếng súng vang lên, ba đảng viên Cộng sản gục ngã.

Chả biết có ai trong họ có thành Nhân không?

Em Bé Trong Xe Cứu Thương

Trần Mộng Tú

Nhân viên cứu thương lôi em ra từ đống gạch vụn nát, cả người em phủ kín vôi vữa, giống như lớp bột kem phủ trên cái bánh.

Trời tối, tiếng kêu thất thanh của đám đàn ông cứu hộ. Em được chuyền từ tay người này qua tay người kia trong hấp tấp vội vàng. Cả phía mặt bên trái em đầy máu. Em im khe, không một tiếng khóc nào, không gọi bố mẹ. Em ôm chặt lấy cổ người bế em. Người ta đặt em vào cái ghế to trong lòng chiếc xe cứu thương.

Em ngồi đó, bất động nhìn chung quanh bằng con mắt bên phải. Cái ghế mầu cam, mấy người đàn ông mặc áo màu cam, cái hộp cứu thương màu cam, chung quanh em cái gì cũng màu cam, màu của toán cứu thương.

Người đàn ông đặt thằng bé vào ghế, cúi xuống nhặt cái walkie talkie rồi bỏ đi.

Một người đàn ông khác cầm máy hình nhắm vào nó. Nó mặc một cái quần cụt, cái áo thun có vẽ hình cạc-toon. Hai bàn tay bé của nó đặt yên trên đùi mình. Mắt phải của nó mở to hơn mắt trái. Nó nhìn ra phía cửa xe cứu thương, nhìn về phía có tiếng động. Nó chớp mắt một cái rồi nhìn đi nơi khác (*)

Omran Daqneesh (Hình của Mahmoud Raslan-AP)

Lá cờ Tổ quốc

(Viết nhân kỷ niệm 71 năm Cách mạng Tháng Tám)

Tương Lai

Lâu lắm mới có được một xúc động trào nước mắt nhìn lá cờ Tổ quốc được kéo lên cùng với âm vang của bài Quốc ca khi vận động viên Hoàng Xuân Vinh lên bục nhận huy chương vàng trong ngày đầu tiên của Thế vận hội Olimpic tại Rio. Chen vào đây một chút gì đó có hơi hướng “AQ” thoáng gợn lên trong đầu khi nhìn thấy lá cờ Trung Quốc áp sát lá cờ đỏ sao vàng nhưng dưới một bậc. (Có được thành tích này cũng chính là vì người vận động viên bắn súng tài danh này đã “thoát Trung” theo quyết định của huấn luyện viên Nguyễn Thị Nhung, chấm dứt việc đi tập huấn tại Trung Quốc của tuyển bắn súng Việt Nam vì không thu được lợi ích gì sau cả một thời gian dài). Cũng là “oan nghiệt chi đây”!

Tôi tin chắc rằng bạn bè tôi và nói rộng ra, nhiều, rất nhiều những người Việt Nam bình thường cũng có những xúc động tương tự. Nhưng rồi xúc cảm vừa trào dâng bỗng hụt hẫng khi nghĩ về một nghịch lý oái oăm: cũng lá cờ đỏ sao vàng này lại đã từng được phất lên trong những cuộc phản biểu tình chống Trung Quốc xâm lược của những năm tháng nhiễu nhương với 16 chữ vàng oan nghiệt.

Thì đấy, lá cờ Tổ quốc được quấn chặt quanh người chiến sĩ Gạc Ma quyết tử vì chủ quyền đất nước thiêng liêng và rồi cũng trong lễ tưởng niệm anh linh những người đã chết vì quyết bảo vệ lá cờ, biểu tượng của chủ quyền đất nước trước họng súng bọn xâm lược, cũng chính cũng lá cờ ấy lại hiện ra trong những giằng xé quyết liệt giữa những người yêu nước và thế lực cầm quyền hèn với giặc, ác với dân.

Vẫn còn đó hình ảnh Lê Thân, cựu tù chính trị Côn Đảo, quyết liệt ngăn chặn hành động láo xược của một thanh niên vác lá cờ đỏ sao vàng xông lên nhằm phá rối không cho Huỳnh Tấn Mẫm phát biểu trong ngày mít tinh và tuần hành tưởng niệm đồng bào chiến sĩ đã hy sinh và lên án Trung Quốc tàn ác và xảo quyệt trước thềm Nhà hát Thành phố Sài Gòn.

Thủ lĩnh và đấng bậc (*)

(Rút từ facebook của Lại Nguyên Ân)

 

Đôi lúc rỗi việc, tự hỏi: Ở thế giới hiện đại hóa công nghệ hóa tiện nghi đủ thứ như hiện thời, thử nhìn xem còn những ai còn theo đuổi lối sống nêu gương? Xứ Tàu có thể là nơi xuất hiện phương châm nhân trị, các đấng vua chúa sống hàng ngày phải nêu gương nhân đức cho "trăm họ" noi theo. Nhưng đám thủ lĩnh cộng sản ở đấy, ngày nay chỉ sẵn sàng nhận cái vai "cha mẹ" dân chứ không noi gương cho dân, trái lại bọn họ phô bày lối sống ăn trên ngồi trốc xa hoa nhàn dật, cách biệt dân chúng.
Thế nhưng hóa ra trên đời này vẫn chưa hết những đấng bậc tuy ở ngôi cao nhưng lại thực hành lối sống giản dị gần gũi dân chúng. Thỉnh thoảng Nữ hoàng Anh quốc, Hoàng đế Nhật Bản, đã có những hành vi như vậy, dù không thường xuyên. Vị Dalai Dama xứ Tibet phải lưu vong thì quá thường xuyên tỏ rõ như vậy. Gần lại đây còn một vị trí nữa, đang tỏ rõ cái đức của kẻ được giao – dù tượng trưng – việc "chăn dân", ấy là Giáo hoàng Roma. Hình như là từ sau Giáo hoàng Gioan Phaolô II (từ năm 1978 đến 2005), không ai ở ngôi ấy còn dám quay trở về lối ứng xử của các Pope trước đó nữa. Thử nhìn vào ứng xử của Cha Francis hiện giờ. Như một linh mục Việt Nam mô tả và nhận xét dưới đây:

Bốn mươi năm thơ Việt hải ngoại (45): Đỗ Kh.

Tiểu sử:

image

 

Nguyên quán miền Bắc Việt Nam, Đỗ Khiêm, tức Đỗ Kh., sinh năm 1955 tại Hải Phòng. Một địa danh và thời điểm then chốt trong lịch sử Đông Dương: sau thất bại của Pháp tại Điện Biên Phủ và hội nghị Genève năm 1954 chia đôi đất nước, cảng Hải Phòng là điểm tập trung cuối cùng để di tản vào Nam. Tại nơi đây có lẽ Đỗ Kh. đã bắt đầu số phận lưu vong.

Anh lớn lên tại Sài Gòn trong một gia đình còn gần gũi với văn hóa Pháp, mặc dù vào lúc đó miền Nam chịu ảnh hưởng của Hoa Kỳ, bắt đầu học đánh vần bằng tập giáo khoa Pháp thời đó với Toto dưới bóng những cây phượng trường Jean-Jacques Rousseau — ở đây Việt văn được coi là một ngoại ngữ — trước khi qua Paris du học vào năm mười bốn tuổi. Trở về Việt Nam đi lính sau năm 1974. Hiện  sống  tại  California  Hoa  Kỳ từ 1975. Bắt  đầu  viết  ở Bolsa sau 1987. Trong  nhóm  chủ  trương tạp chí Thơ, Hợp Lưu.

Tác phẩm:

Cây Gậy Làm  Mưa  (truyện, Tân Thư 1989), Thơ Ðỗ Kh (thơ Tân Thư 1989) Có Những  Bực  Mình  Tức Không  Thể  Nói (thơ Tân Thư 1990), Ký  Sự  Ði  Tây (Xuân Thu 1991), Không Khí Thời Chưa Chiến (Hồng Lĩnh 1993), Gừng Đi Bỏ Phiếu (tạp chí Thơ, 2007), Saigon, Samedi, tiểu thuyết tiếng Pháp.

New York (Trắng Trên Đen 11&12)

Ruben David Gonzalez Gallego

Vũ Thư Hiên dịch

Theo lệ thường, giáo viên phụ trách giảng bài chính trị. Cô kể cho chúng tôi nghe những chuyện khủng khiếp của lối sống phương Tây. Chúng tôi đã quen nghe chuyện đó, chẳng có gì làm chúng tôi ngạc nhiên. Tôi tin một trăm phần trăm rằng đa số dân Mỹ sống ngoài đường, trong những thùng các-tông, dân chúng ở nước Mỹ không trừ một ai đều đào hầm tránh bom nguyên tử, ở Mỹ đang diễn ra một cuộc khủng hoảng kế tiếp.

Lần này cô kể về New York. Cô dẫn ra bài báo trong tờ “New York Times” viết chuyện người ta phát chẩn phó mát cho dân thất nghiệp, mỗi người được 100 gam, phát hết luôn mấy tấn. Cô đặc biệt nhấn mạnh rằng trong suốt tháng sau đó những kẻ trên không chằng dưới không rễ kia sẽ chẳng nhận được gì thêm.

Tôi hỏi: vậy chứ họ sẽ chết đói hết, phải không cô?

- Chết chứ, tất nhiên. – cô giáo trả lời – Nhưng thay vào chỗ của những người chết sẽ có những đám công nhân mất việc khác.

Tôi tin như vậy.

Văn học miền Nam 54-75 (236): Thích Nhất Hạnh (kỳ 6)

Nẻo về của ý - chương 01

POMONA là cái tên cái nhà gỗ trong rừng của tôi đang ở. Nguyên Hưng cứ tưởng tượng một buổi sáng thức dậy ở Phương Bối Am, lúc bảy giờ. Chim chóc hát vang rừng và ánh sáng tràn vào thành từng vũng lớn. Tôi đến đây vào một buổi tối; xe hơi len lỏi trên những con đường rừng thành ra không thấy gì. Sáng dậy, tôi giật mình vì tiếng chim hót, vì căn nhà gỗ và sự yên tĩnh mà đã hơn một năm nay tôi thiếu thốn. Ở Nữu Ước dù thức dậy lúc ba giờ khuya ta cũng vẫn nghe tiếng xe cộ đi lại. Tôi nhớ hồi mới về Nữu Ước, suốt một tuần lễ tôi không ngủ được. Tôi than phiền với một người quen. Anh ta mua biếu tôi một thứ bông sáp để nhét vào tai khi đi ngủ. Cố nhiên là đỡ ồn rồi, nhưng tôi vẫn không ngủ được bởi vì không thể quên được vì không thể quên được cái cảm giác là lạ trong hai tai. Mãi mấy hôm sau tôi mới làm quen với tiếng ồn và mới ngủ được. Thực ra, tất cả chỉ là vấn đề thói quen. Có người đã quen với tiếng tích tắc của đồng hồ, thiếu nó thì cũng không ngủ được. Nguyên Hưng không nhớ hồi anh Cường lên chơi và ngủ lại Phương Bối Am sao. Đã quen với tiếng xe cộ đường Hồng Thập Tự nên nằm ở Phương Bối anh ấy cũng không ngủ được vì cái yên tĩnh kỳ lạ của núi rừng Đại Lão.